Quyết liệt đầu tư để tránh thiếu điện

Kinh tế | 07:31 Thứ Năm ngày 12/07/2018
(HNM) - Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1208/QĐ-TTg (ngày 21-7-2011) phê duyệt quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030 (TSĐ điện VII). Theo đó, nhu cầu xây dựng nguồn điện khoảng 75.000MW (năm 2020) và tăng lên 146.800 MW (năm 2030) với mức tăng trưởng phụ tải 14-15%/năm.
 

Một góc Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân (Bình Thuận).

Năm 2016, tại Quyết định số 428/QĐ-TTg, TSĐ điện VII đã được hiệu chỉnh công suất xuống còn 60.000MW (năm 2020), 129.500MW (năm 2030), đáp ứng tăng trưởng phụ tải 11%/năm. Tuy nhiên, với thực tế các dự án đang triển khai, nguy cơ thiếu điện là khó tránh nếu không có sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, ngành chức năng.

Công suất hữu dụng đã chạm hạn mức

Công suất lắp đặt của hệ thống điện hiện nay ở mức 46.830MW và công suất cao nhất trong những ngày nắng nóng vừa qua đã đạt 35.128MW. Theo lý thuyết, công suất hữu dụng chỉ đạt được 70% công suất lắp máy, tức công suất hữu dụng của hệ thống điện khoảng 32.781MW.

Thế nhưng, những ngày nắng nóng vừa qua công suất hệ thống đã vượt quá khả năng về mặt lý thuyết. Theo TSĐ điện VII hiệu chỉnh, đến năm 2020, tổng công suất hệ thống sẽ đạt 60.000MW. Trong khi tổng công suất hệ thống đang là 46.830MW, như vậy từ nay đến năm 2020, sẽ phải đưa vào vận hành 13.000MW mới bảo đảm mục tiêu phát triển điện đi trước một bước.

Rà soát lại quá trình thực hiện TSĐ điện VII cho thấy, từ nay đến năm 2020 chỉ còn Dự án "Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 mở rộng" (công suất 600MW) và "Nhiệt điện Duyên Hải 3 mở rộng" (công suất 600MW) do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư hoàn thành đúng kế hoạch. Các dự án "Nhiệt điện than Long Phú" (công suất 1.200MW) và "Sông Hậu" (công suất 1.200MW), vào thời điểm này có thể khẳng định đã bị "phá sản so với kế hoạch.

Dự án "Nhiệt điện Quảng Trạch 1" trước đây giao cho Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN), nhưng do nhiều nguyên nhân không đáp ứng được tiến độ, Chính phủ đã quyết định giao lại cho EVN. Tuy nhiên, do vướng giải phóng mặt bằng nên EVN đang lập lại quy hoạch và nhanh nhất đến năm 2022 mới có thể vận hành.

Tiếp đến là tiến độ của các dự án nhiệt điện khí (LNG) cũng đang bị “mắc kẹt” ở PVN. Bởi, theo TSĐ điện VII, dự kiến sau năm 2020, sẽ phát triển các nhà máy điện ở khu vực miền Trung, với tổng công suất khoảng 3.000-4.000MW, tiêu thụ 3-4 tỷ mét khối khí/năm. Việc phát triển hệ thống kho, cảng nhập khẩu LNG tại Sơn Mỹ (Bình Thuận) để bổ sung khí cho các trung tâm điện lực: Phú Mỹ, Nhơn Trạch khi nguồn khí thiên nhiên tại khu vực miền Đông giảm được giao cho PVN. Song, với tình hình hiện nay của PVN và thực tế của dự án thì việc đáp ứng tiến độ là không thể.

Ngoài ra, việc đưa khí từ Lô B vào bờ từ năm 2020 để cung cấp cho các nhà máy điện tại các trung tâm điện lực Kiên Giang và Ô Môn với tổng công suất khoảng 4.500MW đang trong tình trạng khó bảo đảm tiến độ...

Theo TSĐ điện VII, tổng công suất các nguồn thủy điện (gồm cả thủy điện vừa và nhỏ, thủy điện tích năng) từ gần 17.000MW lên khoảng 21.000MW (năm 2020) và 24.000MW (năm 2025), trong đó thủy điện tích năng là 1.200MW. Hiện nay, có 2 dự án thủy điện tích năng được biết đến là Bác Ái - công suất 1.200MW (Ninh Thuận) và Đông Phù Yên - công suất 1.500MW (Sơn La).

Bộ Công Thương đang xin ý kiến các bộ để trình Chính phủ giao dự án này cho Trung Nam Group. Dự án thủy điện tích năng Đông Phù Yên mới được Chính phủ đồng ý về nguyên tắc, nên cả 2 dự án này đều không thể vận hành theo đúng tiến độ của TSĐ điện VII.

Không quyết liệt sẽ thiếu điện

Điểm lại các dự án nguồn điện sẽ hoàn thành phát điện vào năm 2020 theo kế hoạch của TSĐ điện VII thì chỉ có 1.200MW trên tổng số 13.000MW. Như vậy, vẫn còn thiếu hơn 11.800MW. Vậy, giải pháp nào sẽ cứu tinh cho thiếu điện vào năm 2020 và các năm sau?

Trước hết phải tính đến các dự án được đầu tư có thời gian thi công nhanh, đó là nguồn điện năng lượng mặt trời. Thời gian thi công nhà máy điện mặt trời khoảng 1 năm, nhưng khó khăn nhất hiện nay là giải phóng mặt bằng. Để thi công dự án điện mặt trời, trước hết đất cấp không được ảnh hưởng tới sản xuất của các cá nhân, tổ chức và dự án phải nằm trong quy hoạch.

Việc phát triển điện mặt trời hiện nay còn ì ạch, mới khởi công được 4 dự án với tổng công suất 300MW. Mặc dù có rất nhiều chủ đầu tư đăng ký dự án điện mặt trời, nhưng chưa có quy hoạch. Hiện Bộ Công Thương chỉ tổng hợp các dự án đăng ký của các tỉnh, mà chưa tính đến tính ổn định của hệ thống điện. Thực tế cho thấy, bài toán quy hoạch không phải là con số cộng, mà phải quy hoạch để có cụm điện mặt trời. Việc này hiện nay chưa được thực hiện.

Bài toán phát triển điện mặt trời có khả thi? Theo TSĐ điện VII, đến năm 2020, công suất điện mặt trời sẽ là 850MW. Để đầu tư có hiệu quả, EVN phải quy hoạch các nhà máy điện mặt trời bên cạnh các nhà máy điện có khả năng điều tiết công suất truyền tải như nhiệt điện than, khí, thủy điện thay cho vai trò ắc quy (do giá 9,35 US cents/kWh cho điện mặt trời chưa có giá ắc quy). Vì vậy, EVN đang có lợi thế đầu tư điện mặt trời trên mặt các hồ thủy điện ở miền Trung và miền Nam như Yaly, Sê San 4, Đa Mi, Đa Nhim, Trị An…

Một dự án nữa khả thi là quy hoạch xây dựng 4 nhà máy nhiệt điện khí (tổng công suất 3.000MW) sử dụng khí từ mỏ Cá Voi Xanh. Quảng Nam đã chuẩn bị sẵn sàng 3.400ha mặt bằng để nhà đầu tư triển khai ngay khi dự án được cấp phép.

Có thể nói vào thời điểm này, những dự án nguồn điện nào khả thi nhất về tiến độ đều cần được tháo gỡ bằng cơ chế và tinh thần chủ động, quyết liệt của cấp có thẩm quyền để bảo đảm đáp ứng nhu cầu sử dụng điện đang gia tăng.
Bài, ảnh: Mai Linh
Bình luận
Gõ tiếng Việt có dấu, tối thiểu 15 chữ
Liên kết hữu ích
Thông báo