Bước chuyển về tư duy

Suy ngẫm đầu tuần | 07:09 Thứ Hai ngày 09/07/2018
(HNM) - Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thực hiện quy trình xin ý kiến Chính phủ về việc ban hành nghị định về tự chủ đại học để thay thế cho Nghị quyết số 77/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 24-10-2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014-2017 đã hết thời hạn áp dụng, và thí điểm việc bỏ mô hình bộ chủ quản đối với ba trường đại học là Bách khoa Hà Nội, Kinh tế quốc dân, Kinh tế TP Hồ Chí Minh - thuộc 23 cơ sở giáo dục đại học đã thí điểm tự chủ theo Nghị quyết số 77/NQ-CP.

Đó là phần việc mang tính “hai trong một”, bởi việc ban hành nghị định về tự chủ đại học không chỉ là thay thế cho một văn bản đã hết hiệu lực, mà còn nhằm mục tiêu giải phóng cho các trường, để tăng tính chủ động, sáng tạo, tránh hiện thực “cởi trói nửa vời”. Đây là bước tiến về tư duy, đơn giản bởi khi còn bộ chủ quản thì tư duy muốn “quản” còn hiện hữu và tự chủ đại học vẫn bị đánh giá là “nửa vời”.

Bởi vậy, đầu tiên, cần phải khẳng định, việc thí điểm bỏ bộ chủ quản đối với trường đại học là một trong những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ về tự chủ đại học, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phù hợp với xu thế chung của thế giới. Thứ hai, về bản chất, cần xác định rằng việc bỏ bộ chủ quản là xác lập đúng vai trò của các bộ trong quản lý nhà nước, chứ không phải hạ thấp vai trò và sự cần thiết của công tác quản lý đối với giáo dục đại học nói riêng và giáo dục nói chung. Thứ ba, việc bỏ cơ chế cơ quan chủ quản tại một số trường đại học trước khi nhân rộng đòi hỏi thời gian và trong quá trình đó, có thể chúng ta sẽ phải đối diện với hệ lụy không mong muốn.

Hiện nay, ba trường đại học được chọn “thoát ly” bộ chủ quản đang xây dựng đề án không trực thuộc cơ quan chủ quản, lấy ý kiến các bên liên quan trước khi hoàn thiện, trình Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét, báo cáo Chính phủ vào cuối tháng 8-2018. Những chuyển động từ “bộ ba được chọn” cho thấy sự hào hứng, phấn khởi dù chặng đường phía trước còn rất gian nan. Tâm lý đó xuất phát từ thực tế là lâu nay, một số cơ quan chủ quản can thiệp sâu vào hoạt động của trường đại học thuộc quyền, những biện pháp giám sát hỗ trợ nhiều khi kéo theo gánh nặng tự quyết, làm giảm hiệu quả phát huy tính chủ động, sáng tạo của nhà trường. Giờ đây, nếu thực sự được “cởi trói”, trường đại học có cơ hội tự chủ toàn diện, có quyền tự quyết về bộ máy nhân sự, điều chỉnh chế độ học phí, tiền lương, có quyền huy động nguồn vốn để đầu tư, mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác chuyên môn…

Tuy nhiên, mặt khác, chủ trương bỏ cơ chế cơ quan chủ quản trường đại học cũng gây nên tâm lý lo ngại, ít nhất là trong giai đoạn đầu triển khai. Không khó để hiểu nguyên nhân dẫn đến sự “lăn tăn” khi trường đại học “thoát ly” bộ chủ quản có thể tận dụng quyền tự chủ để mở rộng quy mô đào tạo quá mức so với khả năng, tuyển sinh vô tội vạ và vì vậy, làm giảm chất lượng đào tạo, ảnh hưởng tới quyền lợi của người học vốn là mục tiêu lớn nhất mà chủ trương giao quyền tự chủ cũng như thí điểm bãi bỏ cơ chế cơ quan chủ quản hướng tới.

Với việc thí điểm đối với ba trường đại học đã được chọn, tâm lý phấn khởi cũng như e ngại đều cho thấy rằng trong giai đoạn hiện nay, công tác quản lý giáo dục đại học càng quan trọng hơn bao giờ hết. Vấn đề đặt ra là công tác quản lý sẽ được thực hiện như thế nào khi các trường đại học sẽ được quyền tự chủ khá toàn diện. Những chuyện “phá rào”, “vượt khung”, thiếu minh bạch… liệu có xảy ra khi cơ chế bộ chủ quản không còn nữa? Ai sẽ thay các bộ giám sát hoạt động thường xuyên của nhà trường, bổ nhiệm và đánh giá hiệu trưởng cũng như bộ phận lãnh đạo các nhà trường?...

Như đã đề cập, chủ trương bãi bỏ cơ chế bộ chủ quản không làm giảm hiệu quả quản lý, mà nhằm làm cho công tác này hợp lý hơn, thiết thực hơn, hiệu quả hơn thông qua việc chuyển thẩm quyền quyết định đa số vấn đề liên quan cho hội đồng trường thực hiện trên cơ sở tuân thủ các quy định hiện hành, đặc biệt là Luật Giáo dục đại học. Hội đồng trường sẽ thảo luận, ra nghị quyết về tổ chức nhân sự, mục tiêu, phương hướng hoạt động của nhà trường, chiến lược phát triển cũng như các vấn đề liên quan tới tài sản, tài chính, giám sát hoạt động của hiệu trưởng nói riêng và ban giám hiệu nói chung. Bởi vậy, có thể nói, trong bối cảnh thực hiện thí điểm chủ trương trường đại học “thoát ly” bộ chủ quản cũng như khi nhân rộng mô hình đó sau này, công tác quản lý, hiệu quả quản lý hoạt động của các trường đại học phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng hoạt động của hội đồng trường cũng như bộ máy nhân sự hình thành.

Chủ trương liên quan đến cơ chế bỏ bộ chủ quản trường đại học đã rõ. Vai trò quản lý của hội đồng trường cũng đã rõ. Những cải cách về quản lý đại học hiện tại và trong tương lai sẽ giúp cho các nhà trường được tăng quyền tự chủ một cách thực chất. Tuy vậy, cần phải xác định rằng những cải cách về thủ tục hành chính, quyền tự chủ chỉ thực sự đem lại hiệu quả đổi mới chất lượng giáo dục đại học như mong muốn nếu có sự chuyển động tương đồng từ phía hành lang pháp lý liên quan. Chẳng hạn, dễ thấy nhất là vấn đề đầu tư của các nhà trường từ nguồn vốn tích lũy, khi bỏ cơ quan chủ quản có thể gặp vướng mắc với các điều khoản của Luật Đầu tư công. Làm thế nào để tháo gỡ vướng mắc đó?...

Mô hình trường đại học “thoát ly” cơ quan chủ quản mở ra cơ hội lớn cho hệ thống giáo dục đại học, là bước chuyển quan trọng về tư duy quản lý. Các nhà trường không còn lý do để thụ động trông chờ vào “bầu sữa” cơ quan chủ quản mà phải tự thân vận động, phát huy năng lực, trách nhiệm, tính sáng tạo để trụ vững trong môi trường giáo dục đại học vốn đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ. Cơ hội chuyển mình đã có, những bất cập, tồn tại đã được chỉ ra, chờ có giải pháp khắc phục kịp thời. Khi đó, việc tận dụng cơ hội phụ thuộc vào năng lực, hiệu quả hoạt động của chính các nhà trường. Và khâu then chốt tiếp theo là bước chuyển tư duy tương xứng từ bộ phận tham gia quản lý hoạt động của từng trường đại học.
Đức Anh
Bình luận
Gõ tiếng Việt có dấu, tối thiểu 15 chữ
Thông báo