|
CHÍNH PHỦ ___________ Số: 85/BC-CP |
CỘNG HOÀ XĂ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ____________________________ Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2008 |
BÁO CÁO GIẢI TR̀NH VÀ
TRẢ LỜI CHẤT VẤN
CỦA THỦ
TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG
tại Kỳ
họp thứ ba, Quốc hội khoá XII
__________
Thưa các vị
đại biểu Quốc hội,
Thưa đồng
bào cả nước,
Thay mặt Chính phủ, tôi chân
thành cảm ơn các vị đại biểu Quốc
hội, đồng chí, đồng bào, các cơ quan thông tin
đại chúng đă bày tỏ sự nhất trí với báo
cáo của Chính phủ về kiềm chế lạm phát,
ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an
sinh xă hội và tăng trưởng bền vững.
Nhiều vị đại biểu Quốc hội đă
phân tích sâu sắc thêm thực trạng t́nh h́nh và nguyên nhân,
chỉ rơ thêm nhiệm vụ và nêu thêm những biện pháp
cụ thể. Một số ư kiến đề nghị
làm rơ trách nhiệm của từng thành viên Chính phủ trong
quản lư điều hành; yêu cầu Chính phủ tŕnh bày rơ
thêm cơ sở của việc điều chỉnh
chỉ tiêu tăng trưởng và lạm phát; tiết
kiệm chi tiêu ngân sách, cắt giảm đầu tư
công, nâng cao hiệu quả đầu tư; giảm
nhập siêu; chính sách tiền tệ và quản lư ngân hàng
thương mại; làm rơ việc các tập đoàn kinh
tế, các tổng công ty nhà nước đầu tư
kinh doanh ngoài chức năng chính; việc bảo
đảm an ninh lương thực và cải thiện
đời sống nông dân; điều hành giá cả các
mặt hàng thiết yếu; việc bảo đảm
tốt hơn an sinh xă hội cho người nghèo,
người lao động và cán bộ, nhân viên có thu
nhập thấp; cải cách hành chính và chống tham nhũng...
Chính phủ xin
trân trọng tiếp thu những ư kiến rất xác
đáng của các vị đại biểu Quốc
hội, của đồng chí, đồng bào. Chính phủ
sẽ nỗ lực phấn đấu cao nhất
để thực hiện có kết quả các mục tiêu, nhiệm
vụ, giải pháp mà Quốc hội thông qua.
Tại kỳ họp này đă có
132 đại biểu Quốc hội gửi 297 chất
vấn đến Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ và nhiều thành viên Chính phủ. Thủ tướng
Chính phủ đă yêu cầu các thành viên Chính phủ theo
chức năng, nhiệm vụ được giao trả
lời bằng văn bản tất cả các chất
vấn và gần 2 ngày qua đă có 5 vị Bộ
trưởng trực tiếp trả lời chất
vấn của các vị đại biểu Quốc hội
tại hội trường. Thay mặt Chính phủ, tôi xin
báo cáo giải tŕnh thêm về một số vấn
đề mà nhiều vị đại biểu Quốc
hội và đồng chí, đồng bào cả nước
quan tâm, chất vấn.
I
MỘT SỐ NÉT
CHÍNH VỀ T̀NH H̀NH KINH TẾ - XĂ HỘI
THÁNG 5 VÀ 5 THÁNG
ĐẦU NĂM
Kinh tế tháng 5 tiếp tục
đà phát triển khá, một số lĩnh vực có
tiến bộ. Vụ lúa Đông Xuân phía Nam thu hoạch
tăng cả về năng suất (3,7%) và sản
lượng (5,8%); lúa Đông Xuân phía Bắc đang phát
triển tốt; diện tích cây lương thực và rau
màu cả nước tăng khá so với cùng kỳ năm
trước. Đàn lợn giảm 3% do dịch tai xanh,
nhưng đàn ḅ đă tăng 3%, đàn gia cầm tăng
6%. Sản lượng thuỷ sản tháng 5 tăng 8,1% so
với cùng kỳ. Giá trị sản lượng công
nghiệp tháng 5 tăng khoảng 3,4% so với tháng 4, tính
chung 5 tháng đầu năm tăng 16,4% so với cùng
kỳ năm 2007. Đầu tư trực tiếp
nước ngoài tiếp tục tăng cao; có 130 dự án
được cấp phép với tổng số vốn
đăng kư trên 7,4 tỷ USD, đưa tổng số
dự án được cấp phép 5 tháng đầu năm
nay lên 324 dự án, với tổng số vốn đăng
kư đạt 14,7 tỷ USD, tăng 160% so với 5 tháng
đầu năm 2007. Giá trị xuất khẩu 5 tháng
của hầu hết mặt hàng đều tăng, tổng
kim ngạch ước đạt 23,4 tỷ USD, tăng
27,2% so với cùng kỳ. Nhập khẩu tháng 5 ước
giảm trên 200 triệu USD so với tháng 4, nên nhập siêu
tháng 5 là 55,3%, tuy vẫn cao nhưng đă giảm so với
mức nhập siêu tháng 4 (64,7%). Dịch vụ, du lịch cũng
đạt mức tăng khá, tổng mức bán lẻ hàng
hoá và doanh thu dịch vụ 5 tháng tăng 29,7% so với cùng
kỳ.
Các hoạt động khoa
học công nghệ, văn hoá xă hội, xoá đói giảm
nghèo tiếp tục được triển khai theo đúng
tiến độ chương tŕnh, kế hoạch cả
năm.
Quốc pḥng, an
ninh được giữ vững. Trật tự an toàn xă
hội tiếp tục ổn định.
Bên cạnh những kết
quả đạt được, t́nh h́nh kinh tế - xă
hội vẫn nổi lên 2 vấn đề lớn; một
là, giá tiêu dùng tăng cao, làm cho đời sống
của người nghèo, người có thu nhập thấp
khó khăn, thiếu đói ở một số địa
phương tăng lên; hai là, nhập siêu vẫn c̣n
lớn, đe doạ sự ổn định kinh tế
vĩ mô.
Về giá cả thị
trường trong nước: hầu hết giá các nhóm hàng
hoá và dịch vụ tháng 5 đă giảm nhẹ hoặc
chỉ tăng ở mức 0,3% đến dưới 2%,
riêng giá lương thực tăng đột biến
tới 22,19%, làm cho giá tiêu dùng tháng 5 tăng cao trở
lại (3,91%) sau 2 tháng đă giảm nhẹ (tháng 3: 2,99%,
tháng 4: 2,2%) và giá tiêu dùng 5 tháng tăng 19,09% so với cùng
kỳ. Giá lương thực tăng cao chủ yếu do
giá lương thực thế giới tăng mạnh, kéo
theo giá trong nước tăng lên; ngoài ra, những thông tin thất
thiệt và hiện tượng đầu cơ trong
những ngày cuối tháng 4 ở một số địa phương
cũng góp phần làm giá lương thực tăng
đột biến.
Về t́nh h́nh thiếu đói:
theo báo cáo của các địa phương, tính đến
ngày 21 tháng 5 năm 2008, cả
nước có 181.600 hộ thiếu đói, với 766.900
nhân khẩu, chiếm 1,6% số hộ, 1,5% số nhân
khẩu nông nghiệp cả nước, gấp 2 lần so
với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là do
hậu quả của băo lũ cuối năm 2007, của
rét đậm, rét hại kéo dài đầu năm 2008 và nay
đang là thời điểm giáp hạt. Đă chuyển 23
ngh́n tấn lương thực và 9,3 tỷ đồng
tới các hộ thiếu đói. Chính phủ sẽ
tiếp tục theo dơi sát t́nh h́nh này, tập trung đẩy
nhanh việc hỗ trợ khắc phục hậu quả
thiên tai, khôi phục sản xuất kết hợp với
hỗ trợ thiết thực, kiên quyết không để
người dân nào bị đói.
Bằng những nỗ lực
của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, t́nh h́nh kinh tế - xă
hội nước ta trong 5 tháng đầu năm tuy c̣n
rất nhiều khó khăn, nhưng nh́n chung vẫn ổn
định, một số mặt đạt
được kết quả khá. Những kết quả
của 5 tháng đầu năm nay tạo thêm cho chúng ta ḷng
tin để phấn đấu thực hiện tốt
mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xă hội và tăng trưởng bền vững.
II
VỀ ĐIỀU
CHỈNH CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG GDP
VÀ CHỈ SỐ
LẠM PHÁT NĂM 2008
1. Về điều
chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng GDP
Như đă báo cáo trước
Quốc hội, t́nh h́nh kinh tế - xă hội 5 tháng
đầu năm cho thấy, việc thực hiện
chỉ tiêu tăng trưởng GDP từ 8,5 - 9% và
phấn đấu cao hơn đă đề ra trong
Kế hoạch phát triển kinh tế - xă hội năm
2008 là không hiện thực. Trên cơ sở đánh giá t́nh
h́nh thực tế, Chính phủ đề nghị Quốc
hội xem xét điều chỉnh chỉ tiêu tăng
trưởng GDP năm 2008 là khoảng 7%. Đa số ư
kiến của các đại biểu Quốc hội
đồng t́nh với việc điều chỉnh này,
nhưng kiến nghị làm rơ căn cứ xác định
mức điều chỉnh cụ thể; một số ư
kiến đề nghị giữ nguyên chỉ tiêu đă
đề ra từ đầu năm. Chính phủ xin tŕnh
bày thêm như sau:
- Tăng trưởng GDP là
một chỉ tiêu tổng hợp, đo lường
kết quả phát triển kinh tế trong kỳ kế
hoạch. Đây là chỉ tiêu định hướng,
nhưng là căn cứ quan trọng để xác định
chính sách, phân bổ nguồn lực và để tính toán các
chỉ tiêu khác trong kế hoạch phát triển, do vậy
là cơ sở quan trọng trong điều hành kinh tế -
xă hội của đất nước.
- Thực hiện nhiệm vụ
ưu tiên hàng đầu là kiềm chế lạm phát, chúng
ta phải áp dụng chính sách tiền tệ thắt
chặt (hạn chế mức tăng của tổng
phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín
dụng); rà soát điều chỉnh đầu tư công,
đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và
tiết kiệm chi tiêu ngân sách; dành thêm ngân sách cho các
nhiệm vụ an sinh xă hội. Những biện pháp này làm
giảm nguồn lực cho tăng trưởng. Ngoài ra, do
giá cả thị trường thế giới tăng cao làm
chi phí đầu vào tăng lên trong khi giá đầu ra
chưa tăng tương ứng; kinh tế của các
đối tác thương mại chính của Việt Nam
suy giảm làm cho xuất khẩu của ta gặp khó
khăn, đầu tư gián tiếp từ nước
ngoài có phần giảm sút..., cũng làm giảm mức
tăng trưởng. Mặc dù GDP quư I tăng 7,4% nhưng
tốc độ tăng đă chậm lại và thấp
hơn nhiều so với nhiệm vụ kế hoạch.
Từ t́nh h́nh trên, việc giảm tốc độ
tăng trưởng là một yêu cầu thực tế và
cần thiết.
- Để xác định cụ
thể chỉ tiêu tăng trưởng năm 2008 theo tinh
thần kiềm chế lạm phát và duy tŕ tăng
trưởng bền vững, Chính phủ đă giao Bộ
Kế hoạch và Đầu tư (Viện Nghiên cứu
Quản lư kinh tế trung ương) phối hợp
với một số cơ quan trong nước và tổ
chức quốc tế tính toán các khả năng tăng
trưởng theo 3 phương án. Kết quả: mức
tăng trưởng theo phương án cơ bản là 7,2%,
phương án cao là 7,6% và phương án thấp là
6,7%.
Sau khi cân nhắc các mặt, Chính
phủ kiến nghị Quốc hội xem xét chấp
nhận mức tăng GDP năm 2008 khoảng 7%. Mức
tăng này cũng tương đương với dự
báo của một số tổ chức quốc tế
về tốc độ tăng trưởng của kinh
tế nước ta năm 2008 và phù hợp với xu
thế giảm chỉ tiêu tăng trưởng ở
nhiều nước trên thế giới từ 0,5
đến 2% trước t́nh h́nh lạm phát và giá cả
thế giới tăng cao như hiện nay.
Điều quan trọng, như
Chính phủ đă báo cáo Quốc hội tại phiên khai
mạc kỳ họp này là: trong quá tŕnh thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xă hội, chúng ta
phải thường xuyên theo dơi t́nh h́nh, cập nhật
đầy đủ thông tin, b́nh tĩnh, thận trọng,
phân tích, đánh giá để có phản ứng chính sách thích
hợp nhằm hạn chế tối đa những tác
động tiêu cực do những khó khăn mới nẩy
sinh; mặt khác, phải nhanh nhạy tận dụng có
hiệu quả thời cơ mới xuất hiện để
phát huy tốt tiềm năng tăng trưởng của
đất nước.
2. Về xác
định chỉ số lạm phát năm 2008
Khi thảo luận về t́nh h́nh
và chỉ tiêu lạm phát năm 2008, nhiều đại
biểu đặt ra hai vấn đề lớn: một
là, tại sao cùng chịu tác động của thiên tai dịch
bệnh, của tăng giá dầu mỏ, tăng giá
lương thực, giá các nguyên liệu khác… nhưng
lạm phát ở Việt Nam lại cao hơn so với
nhiều nước khác; hai là, v́ sao Chính phủ
đề nghị: tích cực phấn đấu
kiềm chế lạm phát và tốc độ tăng giá;
bằng các giải pháp tổng hợp đưa tốc
độ tăng giá tiêu dùng theo hướng giảm dần
mà không xác định con số cụ thể. Đây là
những câu hỏi quan trọng và rất xác đáng.
- Về những nguyên nhân lạm
phát và lạm phát ở nước ta cao hơn nhiều
nước, Chính phủ đă báo cáo Quốc hội tại
phiên khai mạc kỳ họp này. Tôi xin tŕnh bày thêm như
sau:
Một là, do đầu tư
kém hiệu quả, làm cho sức cạnh tranh của
sản phẩm và của nền kinh tế thấp. Đây
là nguyên nhân sâu xa gây lạm phát và đă tồn tại
nhiều năm nhưng chậm được khắc
phục.
Hai là, giá lương
thực thực phẩm có tác động rất lớn,
rất trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng
ở nước ta. Do thu nhập b́nh quân đầu
người và mức sống thấp nên khoản chi mua
lương thực, thực phẩm chiếm tỷ
trọng lớn trong tiêu dùng của đa số dân cư.
Nhóm hàng này chiếm tới 42,85% cơ cấu hàng hoá tính
chỉ số giá tiêu dùng và có tốc độ tăng giá
cao nhất, liên tục trong những năm gần đây.
Từ năm 2004 đến nay, nhóm hàng này đă quyết
định từ 50 đến 80% mức tăng giá tiêu
dùng[1], chưa kể
đến việc giá lương thực thực phẩm
tăng c̣n là tác nhân kích giá các hàng hoá và dịch vụ khác
tăng theo. Tháng 5 năm 2008, giá tiêu dùng tăng 3,91%, nguyên
nhân chính là giá lương thực tăng đến 22,19%,
cao nhất từ trước đến nay, trong khi giá
hầu hết các mặt hàng khác đều có mức
tăng thấp hơn tháng 4 năm 2008[2].
Ba là, kim ngạch nhập
khẩu nước ta gần bằng 90% GDP nên sự
biến động của giá thị trường thế
giới tác động đến giá trong nước sâu
rộng hơn. Những năm gần đây, giá nhiều
mặt hàng trên thị trường thế giới tăng
mạnh, nhiều mặt hàng có tốc độ tăng
rất cao lại là những mặt hàng ta nhập khẩu
với khối lượng lớn. T́nh h́nh đó gây ra
hiện tượng "nhập khẩu lạm phát".
Mặt khác, trong khi nhiều nước trong khu vực
đă điều chỉnh tăng giá nội tệ so
với đồng đô la Mỹ, việc đồng
Việt Nam mất giá so với đồng đô la Mỹ
tuy có tạo thuận lợi cho xuất khẩu nhưng
cũng làm cho t́nh trạng nhập khẩu lạm phát
được khuyếch đại thêm lên.
Bốn là, trong quá tŕnh
chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường, chúng ta đă chủ động điều
chỉnh giá một số mặt hàng nhà nước c̣n
trực tiếp quản lư. Đây là việc làm cần
thiết, được thực hiện có lộ tŕnh,
từng bước góp phần bỏ bù lỗ, xoá bao
cấp qua giá. Mặc dù mức giá mới nói chung vẫn c̣n
thấp so với giá thị trường thế giới
nhưng mỗi lần điều chỉnh như vậy
đều làm cho giá thị trường trong nước
tăng lên.
Năm là, từ năm 2003
đến nay, chúng ta liên tục điều chỉnh
lương hàng năm với mức tăng tối
thiểu là 20%. Việc tăng lương là cần
thiết, chúng ta đă kiên quyết làm tuy biết rằng
tăng lương cũng làm cho lượng tiền trong
lưu thông tăng lên, tạo sức ép và gây tâm lư tăng
giá.
- Về xác định chỉ
số lạm phát trong năm 2008
Lạm phát ở nước ta,
ngoài những nguyên nhân thuộc chính sách tài khoá, chính sách
tiền tệ và những nguyên nhân nội sinh khác, c̣n
phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố bên ngoài:
giá lương thực thế giới đang tăng cao kéo
theo giá trong nước tăng lên, đây là việc khó tránh,
không chỉ đối với các nước nhập
khẩu mà ngay cả đối với nước xuất
khẩu như nước ta; thiên tai dịch bệnh c̣n
diễn biến bất thường; giá xăng dầu, giá
đồng đô la Mỹ đang biến động
mạnh, rất khó dự báo; ngoài ra, yếu tố tâm lư
cũng tác động đến việc h́nh thành mặt
bằng giá nước ta. Các yếu tố này đang
diễn biến phức tạp và tác động đan xen
trong khi thời gian đến cuối năm chỉ c̣n 7
tháng, rất khó có đủ căn cứ vững chắc
để tŕnh Quốc hội con số cụ thể
về tốc độ tăng giá. V́ vậy, Chính phủ
đề nghị Quốc hội chấp nhận mục
tiêu kiềm chế lạm phát trong năm 2008 là: “tích
cực phấn đấu kiềm chế lạm phát và
tốc độ tăng giá; bằng các biện pháp
tổng hợp, đưa tốc độ tăng giá tiêu dùng
theo hướng giảm dần” tạo cơ sở
để đưa tốc độ tăng giá xuống
một con số trong vài năm tới.
Có
thể nói, chúng ta không thể giảm nhanh lạm phát
chỉ với những nỗ lực chủ quan, mặt
khác để tránh những tác động bất lợi
khác cho nền kinh tế cũng không nên giảm lạm phát
một cách đột ngột[3]. Kinh nghiệm chống lạm phát của các
nước và nước ta trong những năm 80 đầu
những năm 90 của thế kỷ trước cho
thấy, để đưa lạm phát xuống thấp
cần phải có thời gian.
Ngoài
ra, như đă nêu ở trên, do mức cung và lượng
cầu nhiều mặt hàng thay đổi có tính thời
vụ, theo các quy luật vận động riêng, nên
biến động giá cả các tháng, các quư có thể khác
nhau, không hẳn tháng sau thấp hơn tháng trước. Trong điều
kiện đó, khuynh hướng vận động của
giá là quan trọng nhất. Phải làm cho tốc độ
tăng giá tiêu dùng giảm dần xuống. Đây là yêu cầu
cấp thiết và có tính khả thi.
Với những phân tích nêu trên,
xin Quốc hội xem xét chấp nhận đề nghị
này của Chính phủ.
C̣n về chỉ tiêu giảm nghèo
và các chỉ tiêu khác, xin kiến nghị Quốc hội giao
Chính phủ căn cứ vào t́nh h́nh tăng trưởng và
kiềm chế lạm phát để phấn đấu đạt
mức cao nhất có thể.
III
VỀ MỘT SỐ
VẤN ĐỀ NHIỀU VỊ ĐẠI BIỂU
QUỐC HỘI
VÀ ĐỒNG BÀO
CẢ NƯỚC QUAN TÂM, CHẤT VẤN
1.
Về rà soát, sắp xếp lại các dự án đầu
tư
Để
kiềm chế lạm phát, Chính phủ chỉ đạo
thực hiện đồng bộ 8 nhóm giải pháp, trong
đó có việc rà soát, điều chỉnh đầu
tư công, đầu tư từ nguồn trái phiếu
Chính phủ và đầu tư của doanh nghiệp nhà
nước; thực hiện triệt để tiết
kiệm chi thường xuyên từ nguồn ngân sách. Các
đại biểu Quốc hội đều đồng t́nh
với chủ trương này và đề nghị Chính
phủ phải chỉ đạo thực hiện một
cách kiên quyết. Xin báo cáo Quốc hội như sau:
-
Về sắp xếp lại các dự án đầu tư
công
Thông
thường, khi giá vật tư, thiết bị tăng
cao, Chính phủ thường phải cấp bổ sung
vốn để bù đắp phần trượt giá,
điều chỉnh tăng vốn cho các dự án, công tŕnh
đầu tư từ nguồn ngân sách. Năm nay, giá
vật tư, thiết bị tăng mạnh hơn các
năm trước, nhưng Chính phủ chỉ đạo
giữ nguyên tổng mức vốn
đầu tư đă phân bổ từ đầu năm, đồng
thời, yêu cầu rà soát,
cắt giảm, đ́nh hoăn các dự án, công tŕnh chậm
hoàn thành, kém hiệu quả, tập trung vốn cho các công
tŕnh, dự án hiệu quả, có khả năng hoàn thành
sớm trong năm 2008, 2009. Đây là một việc khó,
nhưng các Bộ, ngành và địa phương đă
thể hiện quyết tâm thực hiện chủ
trương này. Đến ngày 28 tháng
5 năm 2008, đă có 28 Bộ, ngành, cơ quan Trung
ương, 43 địa phương và 8 tập đoàn
kinh tế, tổng công ty nhà nước báo cáo về số
công tŕnh, dự án đ́nh hoăn, ngừng triển khai và giăn tiến
độ thực hiện trong kế hoạch năm 2008 là
995 dự án với tổng số vốn đầu tư
từ nguồn ngân sách nhà nước là 3.983 tỷ
đồng, bằng 7,8% tổng số vốn đầu
tư thuộc ngân sách nhà nước. Các đơn vị,
địa phương đang tiếp tục rà soát
với tinh thần tích cực, khẩn trương.
Thủ tướng Chính phủ đă giao Bộ
Kế hoạch và Đầu tư đôn đốc, kiểm tra để bảo
đảm chấp hành nghiêm chỉ đạo của Chính phủ.
-
Về các công tŕnh, dự án sử dụng nguồn vốn
trái phiếu Chính phủ
Chính
phủ chủ trương kiên quyết rà soát để
đ́nh hoăn các dự án, công tŕnh tuy đă có trong danh mục
sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ nhưng
chưa chuẩn bị xong thủ tục đầu tư
theo quy định. Theo tinh thần trên, sau khi rà soát,
tổng mức vốn đầu tư từ nguồn
vốn trái phiếu Chính phủ dự kiến cắt
giảm là trên 9.000 tỷ đồng, bằng khoảng 25%
kế hoạch năm 2008[4]. Đồng thời,
Chính phủ cho phép giải ngân khối lượng hoàn thành
vượt mức kế hoạch của các dự án có
tiến độ thi công nhanh và xem xét bổ sung vốn
đối với các dự án có tiến độ
vượt kế hoạch, các công tŕnh có hiệu quả và
các công tŕnh trọng điểm về kinh tế - xă
hội.
-
Về hiệu quả đầu tư
Một số ư kiến đại biểu
nhận xét, t́nh trạng đầu tư kém hiệu
quả đă có từ những năm trước đây,
hệ số ICOR[5] tăng cao, đề nghị Chính phủ
làm rơ nguyên nhân và các giải pháp khắc phục.
Theo
một số tính toán, giai đoạn 2002 - 2007, hệ số
ICOR của Việt Nam
khoảng từ 4,5 - 5,3; như vậy, để làm ra
một đồng GDP cần khoảng 4,5 đến 5,3
đồng vốn đầu tư. Hệ số ICOR
của nước ta cao hơn một số nước
ở giai đoạn phát triển tương
đương[6] do những nguyên nhân
chủ yếu là:
Những bất cập trong công tác quy
hoạch và những yếu kém trong quản lư nên đầu
tư c̣n dàn trải, nhiều công tŕnh kéo dài chậm
đưa vào sử dụng, t́nh trạng lăng phí, thất
thoát c̣n lớn, hiệu quả đầu tư thấp.
Tăng trưởng ở nước ta chủ yếu
vẫn là theo chiều rộng, tỷ lệ đóng góp
của vốn vào tăng trưởng có xu hướng
tăng, đóng góp của lao động có xu hướng
giảm dần, đóng góp của các nhân tố tổng
hợp như tiến bộ kỹ thuật và công nghệ,
chất lượng nguồn nhân lực, quản lư c̣n
thấp.
Thời
gian qua, vốn đầu tư vào các lĩnh vực hạ
tầng kinh tế và xă hội ở nông thôn, vùng sâu vùng xa,
tuy c̣n thấp xa so với yêu cầu nhưng vẫn
chiếm một tỷ trọng lớn. Đây là việc
làm hết sức cần thiết, thể hiện quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta đối với
nông dân và đồng bào vùng khó khăn, đáp ứng yêu
cầu phát triển bền vững. Những công tŕnh này
đă góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu
thông hàng hoá, cải thiện điều kiện ăn
ở và đi lại của nhân dân, nhưng trong ngắn
hạn chưa tạo ra nhanh và nhiều giá trị gia
tăng cho nền kinh tế.
Để
nâng cao hiệu quả đầu tư, Chính phủ đă
chỉ đạo thực hiện đồng bộ
nhiều biện pháp, trong đó tập trung vào các biện
pháp chủ yếu như: kiểm soát chặt chẽ
đầu tư từ nguồn ngân sách và đầu tư
của doanh nghiệp nhà nước; hoàn thiện hệ
thống thể chế; nâng cao chất lượng công tác
quy hoạch và chất lượng thẩm định;
đề cao trách nhiệm của chủ đầu tư
và người ra quyết định đầu tư;
tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các
cơ quan chức năng và của xă hội.
2.
Về tiết kiệm chi thường xuyên từ nguồn
ngân sách
Chính
phủ đă chỉ đạo rơ việc tiết kiệm
10% chi thường xuyên trong 8 tháng c̣n lại của năm
2008 ngoài phần tiết kiệm 10% theo kế hoạch
từ đầu năm và đă có nghị quyết riêng
về vấn đề này. Bộ Tài chính đă có hướng
dẫn cụ thể. Theo báo cáo, số tiết kiệm
được dự kiến khoảng 2.700 tỷ đồng.
Thủ
tướng Chính phủ đă giao Bộ Tài chính tiếp
tục kiểm tra để bảo đảm thực
hiện nghiêm chủ trương này.
3.
Về hoạt động của các tập đoàn kinh
tế, tổng công ty nhà nước
Sau
một quá tŕnh sắp xếp, đổi mới và phát
triển doanh nghiệp nhà nước, hiện nay cả
nước có 8 tập đoàn kinh tế, 96 tổng công ty nhà
nước. Các tập đoàn, tổng công ty chủ
yếu hoạt động theo h́nh thức công ty mẹ -
công ty con, trong đó 74% công ty con là công ty cổ phần,
đa sở hữu. Theo báo cáo của Bộ Tài chính (trên
cơ sở báo cáo của 76 tập đoàn, tổng công ty)[7], kết quả sản xuất kinh doanh năm 2007
của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước so
với năm 2006 đạt khá: hầu hết tập
đoàn, tổng công ty sản xuất kinh doanh có lăi[8]. Tổng vốn chủ sở hữu là
377 ngh́n tỷ đồng, tăng 18% chủ yếu
được bổ sung từ lợi nhuận. Tổng
tài sản năm 2007 tăng 26%; tổng doanh thu tăng 24%;
tổng lợi nhuận tăng 23%; tỷ suất lợi
nhuận trên vốn chủ sở hữu đạt 17%
(năm 2006 là 16%). Giá trị sản
lượng hàng hóa, dịch vụ chiếm 40% GDP, đóng
góp 28,8% tổng thu nội địa (không kể thu dầu
thô và thuế xuất nhập khẩu).
Tuy
hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh
tranh c̣n thấp, các tập đoàn, tổng công ty nhà
nước đă góp phần quan trọng vào ổn
định kinh tế vĩ mô, bảo đảm cân
đối cung cầu, b́nh ổn giá cả một số
mặt hàng thiết yếu; thực hiện các dự án
đầu tư phát triển hạ tầng mà khả
năng thu hồi vốn chậm và các nhiệm vụ công
ích ở các vùng có điều kiện kinh tế - xă hội
khó khăn. Một số doanh nghiệp xây dựng
được thương hiệu có uy tín trên thị
trường; đầu tư đổi mới công
nghệ, thiết bị và xây dựng được
đội ngũ lao động kỹ thuật cao;
đảm nhiệm được nhiều công việc
trước đây vẫn phải thuê hoặc mua của
nước ngoài.
Thời
gian gần đây, có một số ư kiến lo ngại
về t́nh h́nh huy động vốn của các tập
đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và việc
một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước
đầu tư nhiều vào kinh doanh bất động
sản, chứng khoán và tài chính, ngân hàng, là những lĩnh
vực không thuộc ngành nghề chính.
Theo
báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến ngày 31 tháng 12
năm 2007, tổng số vốn huy động (bao gồm
vốn vay trong nước, vay nước ngoài, vay ngắn
hạn, dài hạn và các khoản nợ phải trả khác)
của 76 tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 514
ngh́n tỷ đồng, gấp 1,36 lần vốn chủ
sở hữu. Xét về tổng thể là vẫn bảo
đảm an toàn về tài chính. Một số doanh
nghiệp có mức huy động cao hơn, Chính phủ
đă chỉ đạo Bộ Tài chính chủ tŕ kiểm
tra, đánh giá đúng thực trạng để có giải
pháp thích hợp với từng trường hợp.
Cũng
tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2007 có 13 tập đoàn, tổng
công ty đầu tư vào các quỹ đầu tư
chứng khoán và quỹ đầu tư tài chính với tổng
giá trị 1.061 tỷ đồng, bằng 0,31% vốn
chủ sở hữu và bằng 0,13% tổng giá trị tài
sản của các doanh nghiệp này. Có 19 tập đoàn,
tổng công ty góp vốn thành lập ngân hàng thương
mại cổ phần với tổng giá trị đầu
tư 4.426 tỷ đồng, bằng 1,3% vốn chủ
sở hữu và bằng 0,55% tổng giá trị tài sản.
Có 13 tập đoàn, tổng công ty nhà nước góp vốn
thành lập 15 công ty chứng khoán với tổng giá trị
đầu tư 420 tỷ
đồng, bằng 0,12% vốn chủ sở hữu và bằng
0,05% tổng giá trị tài sản. Có 18 tập đoàn,
tổng công ty nhà nước góp vốn đầu tư vào
lĩnh vực bất động sản với tổng
giá trị đầu tư 1.463 tỷ đồng, bằng
0,43% vốn chủ sở hữu và 0,18% tổng giá trị
tài sản của chính các doanh nghiệp này. Xét chung, tổng
vốn đầu tư vào 3 lĩnh vực trên là 7.370
tỷ đồng, là con số không nhỏ nhưng không cao
so với vốn chủ sở hữu và tổng giá trị
tài sản của doanh nghiệp.
Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ nhận thức rơ rằng,
các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hiện
đang hoạt động trong các lĩnh vực trọng
yếu của nền kinh tế, nắm giữ một
khối lượng lớn tài sản quốc gia, chiếm
tỷ trọng cao nợ nước ngoài và nợ các ngân
hàng trong nước của khối doanh nghiệp; hiệu
quả hoạt động của các tập đoàn và
tổng công ty nhà nước có ảnh hưởng rất
lớn, trực tiếp đến ổn định kinh
tế vĩ mô, chất lượng và sức cạnh tranh
của nền kinh tế. V́ thế, hoạt động
của khối doanh nghiệp này cần phải
được giám sát chặt chẽ, đánh giá một
cách đầy đủ, nghiêm túc, minh bạch thông qua
kiểm toán độc lập, tin cậy nhằm nắm
chắc thực trạng, có giải pháp kịp thời, phù
hợp để khắc phục các yếu kém, nâng cao trách
nhiệm và hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp này trong công cuộc phát triển đất
nước.
Điều
quan trọng là phải khẩn trương xác định
rơ hơn các nội dung cụ thể về vai tṛ chủ
đạo của kinh tế nhà nước, mà lực
lượng quan trọng là doanh nghiệp nhà nước,
để tránh sự mâu thuẫn, thậm chí tự mâu thuẫn
khi sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà
nước trong quá tŕnh thực hiện đường lối
của Đảng, đó là: "Phát triển nền kinh
tế nhiều h́nh thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai
tṛ chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với
kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền
tảng vững chắc của nền kinh tế quốc
dân"[9] và "h́nh thành một
số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các
tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các
thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành
kinh doanh chính, chuyên môn hoá cao và giữ vai tṛ chi phối
lớn trong nền kinh tế quốc dân..."[10].
Chính
phủ đang chỉ đạo chuẩn bị sơ
kết việc thí điểm mô h́nh tập đoàn kinh
tế và xây dựng nghị định về tập
đoàn kinh tế nhà nước. Trước mắt,
kiểm soát chặt chẽ việc các tập đoàn,
tổng công ty nhà nước đầu tư vào kinh doanh
chứng khoán, ngân hàng, bất động sản. Đồng thời đẩy mạnh việc sắp
xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo
kế hoạch đă đề ra, trong đó biện pháp
cơ bản là thực hiện có hiệu quả công tác
cổ phần hoá, h́nh thành đa sở hữu trong doanh
nghiệp nhà nước, tạo động lực và
cơ chế quản lư năng động, tăng cường
sự giám sát của cổ đông và xă hội, làm cho doanh
nghiệp nhà nước thực hiện tốt nhất vai
tṛ, vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị
trường định hướng xă hội chủ
nghĩa của nước ta. Chính phủ yêu
cầu Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố, với tư cách là đại
diện chủ sở hữu nhà nước phải
tập trung chỉ đạo, kiểm tra việc thực
hiện nhiệm vụ này.
4. Về các giải
pháp giảm nhập siêu
Là một nước đang phát
triển hướng đến mục tiêu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, nhập siêu là b́nh thường
nếu ở một tỷ lệ hợp lư. Tuy nhiên tỷ
lệ nhập siêu 4 tháng đầu năm nay ở mức
64,7% là quá cao, làm ảnh hưởng xấu đến cán
cân thanh toán quốc tế và ổn định kinh tế
vĩ mô. V́ vậy, Chính phủ coi việc giảm nhập
siêu là một mục tiêu quan trọng, trong đó biện
pháp cơ bản, chủ yếu là tăng mạnh xuất
khẩu đồng thời kiểm soát chặt chẽ
nhập khẩu.
Mặc dù thị trường, giá
cả thế giới biến động mạnh, xuất
khẩu 5 tháng đầu năm tăng 27,2% so với 22%
cùng kỳ năm 2007. Nếu chúng ta tiếp tục thực
hiện tốt các giải pháp tháo gỡ khó khăn
để đẩy mạnh xuất khẩu, dự
kiến xuất khẩu cả năm 2008 có thể tăng
khoảng 26% (kế hoạch là 20 - 22%). Đây là mục tiêu
rất cao, phải nỗ lực phấn đấu
mới đạt được.
Trong 4 tháng đầu năm nay, kim
ngạch nhập khẩu của hầu hết các nhóm hàng
đều tăng so với cùng kỳ 2007. Ngoài nguyên nhân do
giá nhập khẩu tăng, nhiều mặt hàng
được nhập khẩu với số lượng
rất lớn[11]. Cùng với việc thực hiện
chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ làm giảm
cầu trong một số lĩnh vực, Chính phủ đă
chỉ đạo các ngành chức năng tập trung rà soát
và bằng các biện pháp thích hợp, cả về
thuế, hàng rào kỹ thuật... để hạn chế
nhập khẩu một số mặt hàng không thiết
yếu, những hàng hoá trong nước có thể thay
thế được... Theo số liệu ban đầu,
nhập khẩu tháng 5 giảm trên 200 triệu USD so với
tháng 4. Nhờ xuất khẩu tăng cao, nhập khẩu
giảm nên tỷ lệ nhập siêu tháng 5 là 55,3%, tuy
vẫn c̣n cao nhưng đă giảm so với tháng 4 (64,7%).
Chính phủ chủ trương tiếp
tục thực hiện có hiệu quả các biện pháp đồng
bộ để đẩy mạnh xuất khẩu và
hạn chế nhập khẩu, bảo đảm
đủ các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất
và tiêu dùng, phấn đấu đưa tỷ lệ
nhập siêu giảm xuống bằng mức năm 2007 (là
khoảng 30%). Để thực hiện tốt chỉ tiêu
vĩ mô quan trọng này, góp phần bảo đảm
ổn định và phát triển kinh tế - xă hội
đất nước, các doanh nghiệp cần chủ
động cân đối nhu cầu và tiến độ
nhập khẩu; tích cực khai thác, sử dụng hàng hoá
trong nước đă sản xuất được, kiên
quyết chống thất thoát, triệt để tiết
kiệm nguyên nhiên liệu, năng lượng. Chính phủ
yêu cầu các cơ quan, đơn vị và kêu gọi
mọi người hưởng ứng, tự giác thực
hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, dành thêm
tài lực vào phát triển sản xuất kinh doanh, thiết
thực góp phần đưa đất nước
vượt qua khó khăn để ổn định và
phát triển.
5. Chủ trương
điều hành giá cả, bảo đảm an ninh lương
thực và cải thiện đời sống nông dân
Giá cả và điều hành giá là chủ
đề được nhiều đại biểu
Quốc hội và cử tri quan tâm.
Một trong những nội dung cốt lơi của quá tŕnh
đổi mới ở nước ta là thực hiện
cơ chế thị trường có sự quản lư
của Nhà nước, trong đó bao gồm lĩnh vực
giá cả. Thực hiện quản lư giá theo nguyên tắc
thị trường trước hết là xoá bỏ bao cấp
qua giá, giá cả hàng hoá cơ bản do quan hệ cung
cầu quyết định. Nhà nước điều
tiết thị trường, giá cả chủ yếu
bằng các công cụ kinh tế vĩ mô. Nhà nước
chỉ kiểm soát giá các hàng hoá và dịch vụ
độc quyền kinh doanh nhưng tiến tới
thực hiện nguyên tắc không bù lỗ.
Những
năm trước đây Chính phủ đă xác định
lộ tŕnh thực hiện giá thị trường
đối với những mặt hàng thuộc danh mục
Nhà nước trực tiếp quản lư giá. Theo đó,
sẽ điều chỉnh tăng với bước
đi hợp lư để đến hết năm 2008 cơ
bản sẽ áp dụng giá thị trường đối
với các hàng hoá và dịch vụ thuộc danh mục này.
Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XII đă
quyết nghị về một trong những nhiệm vụ
năm 2008 là: xây dựng và công bố lộ tŕnh thực
hiện giá thị trường đối với các hàng
hoá và dịch vụ Nhà nước c̣n kiểm soát việc
định giá.
Tuy
nhiên, những tháng cuối năm 2007 và đầu năm
2008, lạm phát tăng cao, để
ưu
tiên cho mục tiêu kiềm chế lạm phát, bảo
đảm an sinh xă hội, Chính phủ đă chủ
trương chưa điều chỉnh tăng giá
điện, xăng dầu, than, nước sinh hoạt,
cước vận chuyển máy bay, tàu hoả, xe buưt
đến hết tháng 6 năm 2008 và sẽ căn cứ
vào t́nh h́nh lạm phát và biến động trên thị
trường để có
phương án xử lư tổng thể,
thích hợp cả về thời gian và mức độ
đối với từng loại, từng nhóm sản
phẩm, với phương châm Nhà nước, doanh nghiệp
và người tiêu dùng cùng chia sẻ lợi ích, cùng gánh vác trách
nhiệm, Nhà nước sẽ hỗ trợ thích hợp
cho những đối tượng có nhiều khó khăn. Chính
phủ không chủ trương tăng giá đồng
loạt các mặt hàng nói trên sau tháng 6.
Trong
khi kiên tŕ chủ trương thực hiện cơ chế
giá thị trường, việc điều hành giá sẽ
theo định hướng sau đây:
-
Đối với các mặt hàng do Nhà nước trực
tiếp quản lư giá, việc điều chỉnh giá
phải căn cứ vào kết quả chống lạm
phát, tác động của việc điều chỉnh giá
đến giá cả thị trường và đời
sống nhân dân. Trường hợp cần điều chỉnh,
phải xác định bước đi và lộ tŕnh phù
hợp.
Riêng
đối với mặt hàng xăng dầu, do giá đang tăng
cao và biến động rất phức tạp, với giá
bán hiện tại mức bù lỗ là rất lớn[12]. Trong t́nh h́nh lạm
phát hiện nay, việc xử lư giá xăng dầu cần
được cân nhắc cẩn trọng dựa trên
khả năng bù lỗ của ngân sách; kết quả
kiềm chế lạm phát và tác động của
điều chỉnh giá xăng dầu đến giá các
mặt hàng khác, có tính đến việc hỗ trợ thích
hợp cho những đối tượng gặp khó
khăn. Trước hết, các doanh nghiệp nhập khẩu
xăng dầu phải bảo đảm đủ
nguồn hàng, triệt để tiết kiệm chi phí, kiên
tŕ phương châm lấy lúc lăi bù lúc lỗ, không chạy
theo sự thay đổi nhất thời của thị trường.
Áp dụng các biện pháp mạnh để chống
đầu cơ và buôn lậu xăng dầu qua biên giới.
-
Về điều hành giá lương thực, như đă
tŕnh bày ở trên, ở nước ta, lương thực
thực phẩm là nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn
trong cơ cấu hàng hoá tính chỉ số giá tiêu dùng,
lại chịu tác động mạnh, trực tiếp
từ giá lương thực của thị trường
thế giới. Trong bối cảnh hiện nay, kiềm
chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu,
việc điều hành giá lương thực càng trở
nên rất quan trọng.
Chúng
ta đă thực hiện cơ chế giá thị
trường đối với mặt hàng lương
thực từ rất sớm. Đây là một bước
tiến lớn của công cuộc đổi mới.
Việc điều tiết giá lương thực chủ
yếu tác động vào quan hệ cung cầu thông qua
việc đẩy mạnh sản xuất tăng nguồn
hàng, điều tiết hoạt động xuất
khẩu, tổ chức cung ứng lương thực trong
nước.
Năm
nay, tổng sản lượng lúa dự kiến
đạt 36,3 đến 36,5 triệu tấn, bảo
đảm cân đối đủ cho tiêu dùng trong
nước và c̣n lại một khối lượng lúa hàng
hoá khoảng từ 8,3 đến 8,5 triệu tấn,
tương đương 4,1 đến 4,2 triệu
tấn gạo để xuất khẩu.
Chính
phủ chủ trương việc điều hành xuất
khẩu gạo trước hết phải bảo
đảm an ninh lương thực quốc gia trong
mọi t́nh huống, giữ giá gạo trong nước
ở mức hợp lư, tiêu thụ hết lúa hàng hoá với
giá có lợi cho người trồng lúa và xuất khẩu
gạo với số lượng và tiến độ thích
hợp.
Trong
19 năm qua kể từ năm 1989, nước ta đă
xuất khẩu gần 60 triệu tấn gạo, b́nh quân
mỗi năm trên 3 triệu tấn. Trong 10 năm gần đây
lượng gạo xuất khẩu hàng năm đă
tăng lên, đạt trên 4 triệu tấn/năm, riêng năm
2007 xuất khẩu trên 4,5 triệu tấn. Từ
đầu năm nay, trước những diễn biến
phức tạp của thiên tai, dịch bệnh trong
nước, Chính phủ đă quy định lượng
gạo xuất khẩu cả năm 2008 ở mức 3,5
đến 4 triệu tấn với tiến độ kư
kết và giao hàng thích hợp. Đồng thời, giao Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Bộ Công Thương căn cứ t́nh
h́nh thực tế mùa màng đề xuất điều
chỉnh số lượng và tiến độ xuất
khẩu trong những tháng cuối năm. 4 tháng
đầu năm nay, sau khi cân đối đủ nhu
cầu tiêu dùng trong nước, sản lượng lúa hàng
hoá c̣n lại khoảng 5 triệu tấn (tương
đương với 2,5 triệu tấn gạo)[13]. 5 tháng đầu
năm chúng ta vẫn duy tŕ tiến độ xuất
khẩu phù hợp, lượng gạo xuất khẩu
đạt trên 2,1 triệu tấn, kim ngạch đạt
1,17 tỷ USD, tăng 12,9% về lượng và 94% về
giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Ở
nước ta trên 90% sản lượng lúa hàng hoá
được sản xuất ở đồng bằng
sông Cửu Long. Nhiều năm trước đây, khi giá
lúa c̣n ở mức thấp, Chính phủ định
hướng điều hành giá mua lúa, bảo đảm
người trồng lúa sau khi trừ chi phí c̣n lăi khoảng
40%. Định hướng này đă được
chấp nhận rộng răi. Những năm gần đây,
mặc dù chi phí sản xuất và giá cả nhiều hàng hoá
và dịch vụ tăng cao, nhưng tỷ lệ lăi
của người trồng lúa vẫn được nâng
lên và cần được tiếp tục duy tŕ ở
mức thoả đáng. Vụ Đông Xuân năm nay, các chi
phí đầu vào tăng mạnh nhưng giá bán lúa tăng
cao hơn nên tỷ lệ lăi sau khi trừ chi phí đạt
trên 85%[14], tăng đáng kể
so với vụ Đông Xuân năm ngoái (70%).
Mặc
dù vậy, nh́n chung, đời sống của nông dân
vẫn c̣n nhiều khó khăn và nông dân vẫn là đối
tượng được hưởng lợi ít hơn so
với nhiều đối tượng khác trong quá tŕnh phát
triển. Tuy nhiên, việc nâng cao đời sống nông dân
không thể chỉ dựa vào việc tăng giá hàng nông
sản, nhất là tăng giá lúa. Chính phủ đang chỉ
đạo chuẩn bị tốt Đề án nông
nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó sẽ đề
xuất và chỉ đạo thực hiện đồng
bộ các giải pháp để nâng cao hơn nữa
đời sống cho nông dân trong những năm tới.
Cùng
với điều hành xuất khẩu gạo, tổ
chức tốt việc cung ứng gạo trong nước
là một yếu tố quan trọng để bảo
đảm an ninh lương thực và kiềm chế
lạm phát. Việc để
xảy ra thiếu gạo, sốt giá cục bộ trong
mấy ngày cuối tháng 4 vừa qua ở một số
địa phương là hoàn toàn không đáng có, trong lúc
gạo hàng hoá c̣n lớn, mùa màng đang thu hoạch với
năng suất và sản lượng cao. Nguyên nhân chủ
yếu là do đầu cơ, các cơ quan chức năng
trên địa bàn đă không theo sát t́nh h́nh để phát
hiện sớm và có biện pháp xử lư kịp thời.
Một
trong những biện pháp quan trọng để đảm
bảo an ninh lương thực quốc gia bền
vững là phải tăng cường hơn nữa công tác
quản lư sử dụng đất nông nghiệp, nhất
là đất trồng lúa. Chính phủ đang tích cực
chỉ đạo triển khai thực hiện các Nghị
quyết của Quốc hội khoá XI về quy hoạch
tổng thể và kế hoạch sử dụng đất
5 năm (2006 - 2010) của cả nước, thực
hiện mục tiêu đến năm 2010 giữ diện
tích đất trồng lúa là 3,86 triệu ha, trong đó
đất lúa 2 vụ trở lên là 3,3 triệu ha. Chỉ
đạo khẩn trương rà soát, kiểm tra việc
thực hiện để có sự điều chỉnh và
hạn chế nghiêm ngặt việc chuyển đất
trồng lúa sang sử dụng vào mục đích khác. Cùng
với việc tăng cường quản lư đất
trồng lúa theo các quy định của pháp luật, Chính
phủ sẽ nghiên cứu ban hành cơ chế chính sách phù
hợp, bảo đảm lợi ích kinh tế thoả
đáng cho người trồng lúa.
- Để b́nh ổn giá cả, quan trọng
nhất là phải đẩy mạnh sản xuất
nhằm tăng nguồn cung cho tiêu dùng trong nước và
xuất khẩu, bảo đảm cân đối cung
cầu trong phạm vi toàn quốc cũng như trên
từng địa bàn, không để xẩy ra mất cân
đối cục bộ. Chính phủ giao trách nhiệm cho
các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, các hiệp
hội ngành hàng đề cao vai tṛ và trách nhiệm của
ḿnh trong việc tổ chức hệ thống phân phối,
tăng cường kiểm tra hoạt động của
mạng lưới bán lẻ và đại lư bán lẻ
của ḿnh, thực hiện bán đúng giá theo hợp
đồng cung ứng, tiêu thụ hoặc hợp
đồng đại lư.
6.
Thực hiện tốt công tác thông tin thị trường,
chủ động ngăn chặn đầu cơ nâng giá
Thông
tin có tác động rất nhanh, rất mạnh đến
thị trường giá cả. Thông tin không chính xác sẽ
gây nên những bất ổn trên thị trường, làm
thiệt hại cho người dân, và trong t́nh h́nh hiện
nay sẽ tạo thêm những khó khăn cho việc kiềm
chế lạm phát, như trường hợp sốt giá
gạo cuối tháng tư vừa qua. T́nh trạng này có
nguyên nhân từ công tác tổ chức thông tin. Chính phủ
đă có quy định về cung cấp thông tin, nhưng
việc thực hiện thời gian qua chưa tốt.
Để chấn chỉnh t́nh h́nh này, Chính phủ yêu cầu:
Các
cơ quan quản lư nhà nước phải chủ
động cung cấp thông tin chính thức cho nhân dân và các
phương tiện thông tin đại chúng về t́nh h́nh
kinh tế - xă hội, về quan hệ cung cầu, về thị
trường, giá cả để nhân dân, doanh nghiệp
hiểu rơ t́nh h́nh, chủ động ứng xử thích
hợp.
Phải thiết lập hệ
thống thông tin báo cáo thông suốt từ dưới lên
trên, từ trên xuống dưới, phối hợp chặt chẽ để khi xuất
hiện những thông tin không chính xác trong dư luận
phải kịp thời xử lư, điều chỉnh,
định hướng đúng nhằm
ngăn chặn những tác động bất lợi
tới sự ổn định của thị
trường, giá cả.
Các
cơ quan thông tin đại chúng phải đưa tin chính
xác và chịu trách nhiệm về các thông tin được
đăng tải; không đưa những thông tin làm
ảnh hưởng xấu đến thị trường
giá cả, bất lợi cho việc kiềm chế lạm
phát, gây thiệt hại cho người dân; đồng
thời, phải có trách nhiệm tham gia tuyên truyền
về chính sách và hoạt động điều hành
thị trường của Chính phủ.
Chính
phủ khuyến nghị nhân dân tin tưởng vào thông tin
chính thức của các cơ quan nhà nước, hết sức
thận trọng trước những thông tin không rơ
nguồn gốc. Chính phủ giao các cơ quan chức
năng và chính quyền địa phương thực
hiện kiểm tra và xử lư nghiêm việc đưa
những thông tin sai lệch gây mất ổn định
thị trường và những trường hợp tung tin
sai lạc để trục lợi.
Tăng
cường công tác quản lư thị trường, áp
dụng các biện pháp mạnh nhằm ngăn chặn và
xử lư nghiêm các trường hợp buôn lậu, nhất
là buôn lậu xăng dầu, than, khoáng sản qua biên giới.
7. Bảo đảm
tốt hơn an sinh xă hội
Bảo
đảm an sinh xă hội vừa là mục tiêu, vừa là
yêu cầu của phát triển bền vững. Trong
nhiều năm qua, cùng với việc đẩy mạnh
phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn
quan tâm xây dựng và thực hiện các chính sách về an sinh
xă hội, trong đó đặc biệt chăm lo
đến việc làm, thu nhập, cải thiện đời
sống nhân dân, xoá đói giảm nghèo, trợ giúp gia
đ́nh chính sách, người có công, người gặp khó
khăn.
Đến
nay chúng ta đă xây dựng được một hệ
thống chính sách an sinh xă hội với nhiều
chương tŕnh, dự án, giải pháp và đă mang lại
kết quả rất tích cực, nhất là về xoá
đói giảm nghèo, được nhân dân đồng t́nh
và quốc tế đánh giá cao. Gần đây trước
t́nh h́nh thiên tai dịch bệnh xảy ra nhiều, lạm
phát tăng cao, Chính phủ đă ban hành thêm một số
chính sách nhằm trợ giúp cấp bách người nghèo và
các đối tượng khó khăn.
Để
bảo đảm an sinh xă hội trong thời gian tới,
nhiệm vụ trọng tâm là phải tập trung thực hiện tốt các chính sách đă ban hành,
trước hết là ưu tiên
bố trí đủ nguồn vốn, xây dựng cơ
chế thực thi và kiểm tra chặt chẽ việc
thực hiện, bảo đảm nguồn hỗ trợ
của Nhà nước đến đúng đối
tượng, không để thất thoát, lăng phí. Báo cáo
mới đây của các đoàn kiểm tra do Bộ Tài chính
chủ tŕ về t́nh h́nh sử dụng kinh phí và
lương thực hỗ trợ khắc phục hậu
quả thiên tai năm 2007 tại 8 tỉnh trọng
điểm cho thấy, nh́n chung các địa phương
tập trung chỉ đạo thực hiện chặt
chẽ, chưa phát hiện thất thoát tiêu cực. Tuy nhiên
công tác cứu trợ triển khai c̣n chậm, việc
nắm t́nh h́nh, báo cáo thiệt hại có nơi chưa sát
thực, việc tổ chức hỗ trợ ở một
số nơi chưa đúng đối tượng.
Cùng
với việc thực hiện tốt chính sách đă ban
hành, phải kịp thời sửa đổi bổ sung
cho phù hợp với t́nh h́nh thực tế. Đồng
thời tiếp tục nghiên cứu ban hành mới nhằm
hoàn thiện các cơ chế chính sách về an sinh xă
hội. Trong kỳ họp này, các vị
đại biểu Quốc hội đồng t́nh với các
biện pháp bảo đảm an sinh xă hội nêu trong báo cáo
của Chính phủ và góp nhiều ư kiến thiết
thực nhằm giải quyết tốt hơn nữa
về an sinh xă hội[15]. Các đề nghị cụ thể này, Chính phủ xin
tiếp thu để có xử lư cụ thể và tiếp
tục hoàn thiện một cách cơ bản, bao quát
được hết và giải quyết tốt hơn
những vấn đề đặt ra về an sinh xă
hội.
Về
sửa đổi chuẩn nghèo, từ năm 1993 - 2006, chúng
ta đă 5 lần điều chỉnh cho phù hợp với
điều kiện kinh tế - xă hội của
đất nước và từng bước tiếp
cận với chuẩn nghèo quốc tế. Sau mỗi
lần điều chỉnh, số hộ được hưởng chính sách trợ giúp
tăng thêm. Chúng ta đang áp dụng chuẩn nghèo ban hành từ
năm 2005[16]. Trước t́nh h́nh thiên tai dịch bệnh
và giá cả tăng cao, nhiều đại biểu quan tâm
đến việc điều chỉnh chuẩn nghèo, Chính
phủ cũng đă nhận thấy đây là việc làm
cần thiết và đă chỉ đạo triển khai
việc điều chỉnh như đă báo cáo
trước Quốc hội tại phiên khai mạc.
Hiện nay Bộ Lao động - Thương binh và Xă
hội đă tŕnh các phương án điều chỉnh
chuẩn nghèo, có tính đến mức tăng thu nhập
b́nh quân của cả nước và t́nh h́nh lạm phát hiện
nay. Việc điều chỉnh chuẩn nghèo chỉ có ư
nghĩa nếu trên cơ sở chuẩn mới, các
địa phương tiến hành điều tra nghiêm túc,
chính xác tỷ lệ hộ nghèo, đề ra và thực
hiện các chương tŕnh hành động giảm nghèo có
hiệu quả, bảo đảm giảm nghèo bền
vững.
Về tiền lương và đời sống: tuỳ hoàn cảnh cụ thể mà mỗi cá nhân, mỗi nhóm dân cư có thể có những cảm nhận khác nhau về tác động của các đợt tăng lương đến đời sống trong t́nh h́nh lạm phát hiện nay. Theo số liệu tính toán, từ năm 2003 đến nay, qua 5 lần điều chỉnh, mức lương trung b́nh của công chức, viên ch