|
(HNMO) - “Tấc đất tấc vàng” - câu ngạn ngữ từ ngàn xưa càng ngẫm càng thấy đúng. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu giá trị đích thực của từng loại đất. Và khi đă không hiểu ngọn ngành về điều này, người ta dễ đi đến những quyết sách sai lạc về quản lư và sử dụng dạng tài nguyên đặc biệt thuộc sở hữu của Nhà nước này.
Nh́n từ góc độ chính trị, lịch sử, chủ quyền, mọi mảnh đất của Tổ quốc đều có ư nghĩa lớn lao, v́ để khai khẩn và bảo vệ chúng, bao mồ hôi và xương máu của cha ông ta đă phải đổ xuống. Nhưng xét về giá trị thực dụng, mỗi loại đất lại có ư nghĩa khác nhau.
“Tấc đất tấc vàng”
Câu ngạn ngữ “Tấc đất tấc vàng” càng đúng đối với những nơi khan hiếm đất trồng, như vùng cao nguyên đá Đồng Văn chẳng hạn. Nơi đó hầu như chỉ có đá và đá. Nhưng chính cao nguyên Đồng Văn lại hàm chứa những giá trị to lớn, đáng khao khát của bao quốc gia trên thế giới. Đó là nơi có địa h́nh đá vôi (karst) trùng điệp, muôn h́nh vạn trạng, có thung lũng sông Nho Quế đẹp như mộng với những hẻm vực hoành tráng bậc nhất Đông Dương, có những tượng đài địa cảnh đáng giá cho du khách vượt muôn dặm đường xa đến ngắm nh́n, thưởng lăm…
Xét về tiềm năng du lịch, nếu ở đó xây dựng được một Công viên Địa cảnh (Geopark) đẳng cấp quốc tế th́ giá trị của cao nguyên sẽ được nâng lên nhiều lần. Vấn đề là phải biết đánh thức tiềm lực đất đai... Vậy mà cho tới nay đất nước Việt Nam tươi đẹp chưa hề có một di sản địa chất nào được công nhận - một sự chậm chân đáng tiếc so với khu vực và quốc tế.
Xét riêng về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nước ta có hai vựa lúa lớn là đồng bằng châu thổ sông Hồng (1.486.241 ha) và đồng bằng châu thổ sông Mê Kông (4.060.478 ha). Trước nay đoạn sông Mê Kông chảy trên lănh thổ Việt Nam vẫn được gọi là sông Cửu Long do sông này có 9 cửa đổ ra Biển Đông. Tuy nhiên, hiện nay tên gọi đó dường như không c̣n thích hợp nữa: 1 cửa sông đă bị bồi lấp kín hẳn (cửa Bát Sắt), một cửa sông khác đă bị ngăn lại bởi một con đập (cửa Ba lai).
Như vậy, trên thực tế sông Mê Kông chỉ c̣n 7 cửa đổ ra biển một cách tự nhiên. Các đồng bằng kể trên với đất đai ph́ nhiêu, thuận tiện cho việc trồng lúa nước, là những tài nguyên thiên nhiên có giá trị bậc nhất của nước ta. So với chúng, giá trị của những mỏ dầu ngoài thềm lục địa phía Nam và những mỏ than antraxit quư giá của bể than Quảng Ninh dường như thật nhỏ nhoi. Theo những đánh giá lạc quan nhất, trong ṿng 100 năm nữa loài người sẽ rút lên từ ḷng đất những giọt dầu mỏ cuối cùng…
C̣n bể than Quảng Ninh được đánh giá có trữ lượng 3,3 tỉ tấn (tính đến độ sâu 300m, trong đó trữ lượng kinh tế chỉ đạt 1,2 tỉ tấn), được khai thác từ ngót 100 năm nay, với sản lượng chiếm tỉ lệ khoảng 90% tổng sản lượng than toàn quốc. Tuy nhiên hiện nay những mỏ than lộ thiên lớn đều sắp cạn kiệt, dù có thời kỳ sản lượng than của chúng lên đến 80% tổng sản lượng. Điều kiện khai thác than tầng sâu ngày càng khó khăn, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ngày càng cao. Dự đoán, sau năm 2020 chúng ta sẽ phải xem xét đến khả năng khai thác than ở tầm sâu 150-300m.
So với hai loại tài nguyên khoáng sản giá trị kể trên, đất trồng (thổ nhưỡng) của các đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Mê Kông là những giá trị trường tồn nếu chúng ta biết bảo vệ và khai thác một cách hợp lư. Đất sản xuất nông nghiệp thực tế của đồng bằng Sông Hồng chỉ có 764.024 ha, c̣n ở đồng bằng sông Mê Kông là 2.579.463 ha (số liệu thống kê 2005, đă được Thủ tướng chính phủ phê duyệt).
Đó là những tài nguyên thiên nhiên quư giá bậc nhất mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta, là nơi người dân quê cần cù từ bao đời nay đă sống và làm ra hạt lúa nuôi cả cộng đồng. Cũng chính trên các đồng bằng châu thổ đó, nền văn minh lúa nước đă được nhen nhóm từ buổi b́nh minh của lịch sử dân tộc. Có học giả cho rằng nền văn minh lúa nước của Đông Nam Á đă xuất hiện sớm nhất trên hành tinh.
Đầt – tài nguyên thiên nhiên hàng triệu năm bồi đắp
Nếu t́m hiểu ngọn ngành, chúng ta sẽ biết rằng để có một tấc đất trồng lúa nước ở đồng bằng ngày nay, thiên nhiên đă phải tốn đến hàng triệu năm. Sau đây, chúng ta hăy thử cùng đi ngược thời gian, xem đồng bằng Sông Hồng đă được h́nh thành ra sao?.
Trước hết, lùi lại mốc thời gian cách đây 59 triệu năm, vào cuối kỳ Paleocen của kỷ Đệ Tam, khi mảng lục địa Ấn Độ đă xô húc vào mảng Tây Tạng của lục địa Âu – Á. Từ đó, bắt đầu quá tŕnh nâng lên của dải đất mà ngày nay đă trở thành mái nhà thế giới – dăy núi Hymalaya với đỉnh Everes cao 8.848m.
Cũng chính quá tŕnh tạo núi Hymalaya đó đă khiến lớp vỏ Trái Đất bị tổn thương, tạo nên nhiều vết nứt vỡ kèm theo sự dịch trượt của đất đá ở 2 bên vết nứt, được gọi là các đứt gẫy địa chất. Một đứt gẫy lớn kéo dài từ Tây Tạng, qua Mianmar, Vân Nam (Trung Quốc) rồi xuyên cắt vào lănh thổ nước ta.. Nương theo đới đứt gẫy sung yếu ấy của vỏ Trái Đất, một ḍng sông đă được h́nh thành, kéo theo đất đỏ terra-rossa của những vùng nó đi qua làm cho nước sông được nhuốm màu hồng đặc trưng.
Đó chính là sông Hồng – con sông gần như chia đôi lănh thổ Bắc Bộ. Vào kỷ Neogen, cách nay 23,5 đến 1,75 triệu năm, sông Hồng c̣n trẻ, mới để lại tầng trầm tích ḷng sông tuổi Neogen mà ngày nay đă ch́m sâu dưới những tầng trầm tích mới. Nhưng sang kỷ Đệ Tứ, từ mốc 1,75 triệu năm trước đây, con sông đă bước vào thời kỳ già. Những tầng bồi tích đầu tiên h́nh thành đă khai sinh ra đồng bằng châu thổ Sông Hồng.
Từ đó, cùng với các chi lưu của ḿnh, từng chút một, sông Hồng cần mẫn chở phù sa, vun đắp đồng bằng châu thổ. Quá tŕnh h́nh thành đồng bằng châu thổ Sông Hồng có sự tương tác giữa sông và biển. Sông gom góp từng chút phù sa bồi đắp đồng bằng và lấn dần ra biển. Ngày nay, nh́n từ ảnh vệ tinh tại vùng cửa Ba Lạt của sông Hồng, chúng ta vẫn có thể quan sát quá tŕnh “lấn biển” đó. Mà không phải con sông nào cũng có khả năng này. Ví dụ sông Bạch Đằng ở Bắc Bộ, sông Hàn ở Hàn Quốc, v́ có cửa sông dạng phễu (estuary) nên chúng không tạo ra được đồng bằng châu thổ của ḿnh.
Vào thời Minh Mạng, quan Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ có công lớn khai khẩn hai vùng đất ven biển, lập làng và bố trí hệ thống thủy lợi hợp lư, thau chua rửa mặn... để vùng đất hoang ven biển có thể sử dụng trồng lúa nước. Những vùng đất đó đă được triều đ́nh nhà Nguyễn cho lập thành hai huyện Tiền Hải (1828) và Kim Sơn (1829). Những tên gọi đó có nghĩa “Biển Bạc” và “Núi Vàng”. Công mở đất của Nguyễn Công Trứ được người đời ghi tạc. Hiện nay đền thờ ông vẫn c̣n trên những miền đất mà ông đă có công khai khẩn.
Như vậy, sự h́nh thành một tầng đất thích hợp với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước, là cả một quá tŕnh dài lâu, gian khổ của thiên nhiên và con người. Quá tŕnh phong hóa và tạo thổ nhưỡng từ các loại đá của vùng đồi núi c̣n khó hơn nhiều. Ai đă từng nh́n thấy cảnh một người dân tộc H’Mông gùi đất lên cao, bỏ vào từng hốc đá trên cao nguyên Đồng Văn, rồi tra vào đó mấy hạt ngô, mới thấy hết giá trị của đất trồng đối với con người.
Nguy cơ khủng hoảng lương thực thế giới trong dịp tháng tư vừa qua buộc chúng ta phải dừng lại và suy ngẫm. Từ chỗ thiếu, rồi tự túc đủ lương thực vào những thập niên cuối của thế kỷ trước, Việt Nam đă vươn lên trở thành một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo. Nhiều dự báo cho thấy vào những thập niên tiếp theo, sự khan hiếm lương thực sẽ trở thành nỗi lo thực sự của nhiều dân tộc trên thế giới. Chính v́ thế, đất đai nông nghiệp, đặc biệt là những diện tích trồng lúa nước đă và sẽ luôn là tài sản vô giá, cần được bảo vệ và phát huy tốt nhất hiệu quả sử dụng.
Cảnh báo đất nông nghiệp đang bị thu hẹp
Trên thế giới, nhiều nước đă quy hoạch phát triển đô thị lên những vùng đồi thoải, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp cho các dự án phi nông nghiệp. Nên nhớ rằng, miền đồi núi của Việt Nam chiếm đến ¾ diện tích đất nước. Diện tích đồng bằng thực tế không nhiều lắm. Do vậy, khi quy hoạch tổng thể cần quan tâm bảo vệ những diện tích vốn là vựa lúa, đặc biệt là hai đồng bằng châu thổ Sông Hồng và Sông Mê Kông. Điều đó dường như chưa được chú trọng xem xét trong thực tiễn quy hoạch lănh thổ thời gian qua ở nhiều địa phương. Chính cách quản lư, điều hành lỏng lẻo của các cơ quan chức năng đă tạo nhiều kẽ hở cho những kẻ đầu cơ trục lợi. T́nh trạng sử dụng đất không trúng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến khả năng chủ động về an ninh lương thực quốc gia.
Không cần đi đâu xa, chỉ trên quốc lộ số 5, dài khoảng 100 km, nối hai thành phố lớn là Hà Nội và Hải Pḥng, nhiều người đă thấy đau ḷng khi không biết bao nhiêu diện tích trồng lúa nước hai bên đường đă phải nhường chỗ cho những dự án đủ loại: công nghiêp, dịch vụ, giải trí, đô thị. Có cả những “dự án ma” nằm “đắp chiếu” nhiều năm trời. Sắt thép, bê tông găm vào, phủ lên không thương tiếc những mảnh đất ph́ nhiêu mà thiên nhiên đă tốn cả triệu năm tạo ra, và rất thích hợp cho việc trồng lúa nước. Đất đai nông nghiệp bị thu hẹp nhanh đến chóng mặt.
Theo số liệu của Bộ Tài nguyên - Môi trường, trong 7 năm qua, tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp đă vượt qua ngưỡng 500.000ha (chiếm hơn 5% đất nông nghiệp đang sử dụng). Riêng trong năm 2007, diện tích đất trồng lúa cả nước đă giảm 125.000 ha. Điều đáng lưu ư là có đến 50% đất nông nghiệp bị thu hồi nằm trong những vùng canh tác trọng điểm và 80% trong số đó thuộc loại đất màu mỡ.
Đất đai bị thu hồi cho những dự án ấy khiến bao gia đ́nh nông dân bị trắng tay. Số tiền đền bù tuy không nhiều, nhưng cũng quá lớn đối với người dân vốn chỉ biết cày sâu cuốc bẫm. Họ có thể xây nhà, mua xe từ số tiền đền bù đó, nhưng rồi bỗng trở thành đội quân thất nghiệp. Một bộ phận nông dân không tránh khỏi sa vào những tệ nạn xă hội, bị tha hóa. V́ đă có mấy địa phương, mấy doanh nghiệp thực sự quan tâm đào tạo ngành nghề mới phù hợp cho những người dân vốn chỉ quen chân lấm tay bùn? Họ bị coi là đối tượng được đền bù, chứ không phải là đối tượng cần quan tâm, phát triển trong đà phát triển chung của xă hội.
Cần có giải pháp để đất hồi sinh
Những điều “đau đớn ḷng” kể trên đă và đang diễn ra, trong bối cảnh nước ta có đủ diện tích vùng trung du, vùng “bán sơn địa” phù hợp để triển khai các dự án công nghiệp, đô thị... Nếu đầu tư cơ sở hạ tầng, đường xá, cầu cống và các công tŕnh phúc lợi công cộng song hành với các dự án khác nhau vào những vùng đất cằn khô, nghèo khó đó sẽ vừa giúp cho những vùng đất đó hồi sinh, vừa cứu thoát những cánh đồng phù sa màu mỡ khỏi bị chôn vùi dưới bê tông, sắt thép. Bài toán ở tầm vỹ mô ấy hẳn không ít người nh́n ra, nhưng có vẻ tất cả đều bất lực. V́ họ không phải là những người có quyền quyết định. Mà những người có đủ thẩm quyền, hoặc không nhận ra, hoặc cố t́nh làm ra vẻ như thế.
Đă đến lúc bài toán vĩ mô ấy cần được giải quyết triệt để và kiên quyết. Dù biết rằng phá ruộng để phát triển công nghiệp và các lĩnh vực phi nông nghiệp khác là “tiện” nhất và “phất” nhất. Nhưng đó là cách làm “ăn sổi ở th́”, là có tội với các thế hệ tương lai của đất nước. Một số doanh nghiệp, một số cá nhân có quyền, có chức có thể được hưởng lợi lớn v́ điều đó, nhưng xă hội nói chung và người nông dân nói riêng phải chịu thiệt tḥi. Có những sai lầm sửa chữa được, nhưng những sai lầm kiểu đó là vô phương cứu chữa. Không ai nghĩ rằng trong tương lai một khu công nghiệp đồ sộ nào đó có thể bị “nhổ đi” để trả lại diện tích cho lúa nước.
Kinh nghiệm quư báu của một số nước châu Âu khi khai thác khoáng sản mà vẫn bảo tồn tài nguyên đất, bảo vệ môi trường sinh thái là điều chúng ta cần tham khảo và áp dụng. Ví dụ, để khai thác một mỏ than trong ḷng đất tại một vùng có thảm thực vật xanh tươi, hoặc cánh đồng cây lương thực trên nền đất tốt, người ta đă chia lô, khai thác mỏ theo kiểu cuốn chiếu.
Trong lô đầu tiên, trước hết người ta cho thu hoạch hoa màu, di dời những cây non đến những vùng lân cận trong điều kiện có thể. Tiếp theo - vét tầng thổ nhưỡng bên trên, chuyển đến vị trí thích hợp rồi mới tiến hành khai thác khoáng sản. Sau khi khai thác hết khoáng sản trong lô đầu tiên, người ta chở đất đồi đổ xuống mong khai thác bù cho phần khoáng sản đă bị lấy đi. Công việc cuối cùng là trải lại lớp đất trồng trọt lên bề mặt và trồng lại cây cối, hoa màu, khôi phục cảnh quan sinh thái vốn có.
Lô thứ hai, thứ ba... cũng lần lượt được khai thác theo những bước như thế. Khi toàn bộ mỏ than được khai thác hết, cũng là lúc lớp đất trồng và thảm thực vật trong phần lớn vùng mỏ đá trở lại trạng thái ban đầu.
Việc khai thác bể than nâu khổng lồ có trữ lượng ước tính khoảng 210 tỉ tấn nằm trọn dưới đồng bằng châu thổ Sông Hồng ở độ sâu 100 – 3.500 m là điều không tránh khỏi trong tương lai. Thiết nghĩ, việc làm đó phải được tính toán thật kỹ lưỡng, sao cho về cơ bản độ ph́ nhiêu của đất, sức sống của đồng bằng châu thổ Sông Hồng không bị xâm hại.
Đất nông nghiệp của những đồng bằng châu thổ nếu bị chuyển đổi cho những mục đích sử dụng khác không hợp lư là một mất mát có thể nói không ǵ bù đắp được. Thiết nghĩ vấn đề trọng đại này cần được nghiên cứu, kiểm tra và xử lư nghiêm minh. Chỉ có như vậy chúng ta mới không để t́nh trạng chảy máu “đất xám” ngay trước mắt ḿnh, trên lănh thổ của ḿnh. Tấm gương sáng khai khẩn và mở mang đất nông nghiệp của Nguyễn Công Trứ từ gần một thế kỷ trước c̣n treo đó, và lớp con cháu chúng ta hôm nay cần soi vào đó để răn ḿnh, để làm tốt hơn công tác quản lư và sử dụng đất đai.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời đại ngày nay là cực kỳ quan trọng, không phải bàn căi. Song từ trong sâu thẳm tâm hồn, người Việt Nam vẫn tự hào là cư dân của cái nôi lúa nước nhân loại. Việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, việc giữ vững vị thế cường quốc của lúa gạo thế giới hẳn là điều chúng ta cần nghĩ tới, cho hôm nay và cho mai sau.
PGS, TS Tạ Ḥa Phương
|