|
(HNMO) – Đó là kiến nghị của Bộ Xây dựng trong tờ tŕnh số 84/TTr-BXD ngày 29/9/2008 gửi Thủ tướng Chính phủ về việc đề nghị phê duyệt Chương tŕnh đầu tư xây dựng nhà ở xă hội giai đoạn 2009-2015 (triển khai thực hiện ngay từ đầu năm 2009).
1/3 cán bộ công chức chưa có chỗ ở ổn định
Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân, kết quả điều tra, thống kê về thực trạng nhà ở của cán bộ, công chức cho thấy: hiện nay trên phạm vi cả nước có khoảng gần 2 triệu cán bộ, công chức, viên chức, trong đó 1/3 số cán bộ này (chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn) chưa có chỗ ở ổn định (phải ở ghép hộ, ở nhờ, ở tạm).
Bên cạnh đó, diện tích nhà ở b́nh quân tại các địa phương chênh lệch khá lớn (Lạng Sơn, Thừa Thiên-Huế và Hà Nội có diện tích thấp nhất, từ 7-7,5 m2/người; TP Hồ Chí Minh: 12m2/người; Long An: 15,6m2/người và cao nhất là Đà Nẵng: 20m2/người). Về chất lượng nhà ở chỉ có khoảng 55% nhà kiên cố, 40% bán kiên cố, c̣n lại là nhà tạm.
Đối với những cán bộ, công chức được phân phối nhà chung cư trước đây, hầu hết chất lượng nhà đă xuống cấp nghiêm trọng nhưng chưa được sửa chữa kịp thời. Đối tượng gặp khó khăn về nhà ở tập trung vào các hộ gia đ́nh trẻ có tŕnh độ chuyên môn, nghiệp vụ. Đây là lực lượng lao động chủ lực của đất nước. Hầu hết các đối tượng này do thời gian công tác c̣n ít, khả năng thu nhập c̣n hạn hẹp, chưa đủ điều kiện tích luỹ để mua hoặc thuê nhà ở theo giá thị trường và rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước để giúp họ cải thiện chỗ ở.
Ngoài ra, tại khu vực đô thị vẫn c̣n hàng vạn hộ gia đ́nh thuộc các thành phần kinh tế đang phải sống trong điều kiện chỗ ở không đảm bảo tiêu chuẩn tối thiểu. Kết quả khảo sát cho thấy trên 30% các hộ gia đ́nh ở có diện tích nhà ở dưới 36 m2. Chỉ có 25% hộ gia đ́nh có nhà ở kiên cố và 19% sống trong những căn nhà tạm bợ, cấu trúc không bền vững được làm từ các nguyên vật liệu rẻ tiền. Theo đánh giá chung có khoảng 15 – 20% hộ gia đ́nh thuộc các thành phần kinh tế tại khu vực đô thị thực sự gặp khó khăn về chỗ ở.
Tờ tŕnh của Bộ Xây dựng cũng cho biết, trong nền kinh tế thị trường, tỷ số giá nhà ở so với thu nhập b́nh quân của 1 hộ gia đ́nh trong 1 năm được coi là chỉ số đánh giá khả năng tiêu thụ nhà ở của mỗi quốc gia. Với mức thu nhập b́nh quân của một hộ gia đ́nh tại khu vực đô thị ở nước ta khoảng 4-6 triệu đồng/tháng (48-64 triệu đồng/năm) so với giá mua một căn hộ chung cư với mức giá trung b́nh hiện nay vào khoảng 800-1.000 triệu đồng, chỉ số giá nhà ở/thu nhập của Việt Nam ở vào khoảng 15,6-16,6. Trong khi chỉ số này ở Châu Âu, Trung Đông và Bắc Mỹ là 6,59; Châu Phi là 2,21; Nam Á là 6,25; Đông Á là 4,15.
Như vậy, chỉ số giá nhà ở/thu nhập của Việt Nam cao hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực cũng như các nước khác trên thế giới. Đó là nguyên nhân cơ bản làm cho đại bộ phận những người lao động ở nước ta, bao gồm cả những đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước và những đối tượng làm việc trong các thành phần kinh tế rất khó có điều kiện để tạo lập chỗ ở, nếu không có chính sách tạo điều kiện, hỗ trợ của Nhà nước và của cộng đồng.

Theo chương tŕnh, 30% số hộ gặp khó khăn về nhà ở tại khu vực đô thị sẽ được giải quyết về nhà ở
Phát triển nhà ở xă hội: địa phương thờ ơ, DN kém mặn mà
Trong thời gian qua việc triển khai chính sách phát triển nhà ở xă hội theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 6/9/2006 của Chính phủ gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân cơ bản là do chi phí đầu tư xây dựng các dự án nhà ở đ̣i hỏi phải có nguồn vốn lớn, các thành phần kinh tế muốn tham gia đầu tư phải vay với lăi suất cao, nhưng lợi nhuận thu được khi cho thuê, thuê mua nhà ở xă hội lại rất thấp, thời gian thu hồi vốn dài, do vậy hầu hết các doanh nghiệp đều không "mặn mà" tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xă hội.
Nh́n chung, việc triển khai xây dựng quỹ nhà ở xă hội ở hầu hết các địa phương c̣n rất chậm. Mặc dù pháp luật về nhà ở đă có quy định cho phép các địa phương được thành lập Quỹ phát triển nhà ở để tạo vốn đầu tư xây dựng từ các nguồn: tiền thu từ bán, cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; trích 30-50% tiền sử dụng đất của các dự án nhà ở thương mại và khu đô thị mới; ngân sách địa phương hỗ trợ hàng năm; tiền huy động từ các nguồn vốn hợp pháp khác… Tuy nhiên, do điều kiện ngân sách của các địa phương c̣n hạn hẹp, trong khi nhu cầu chi tiêu để đầu tư cho các mục đích an sinh xă hội khác như cải thiện hệ thống giao thông; cấp, thoát nước; đầu tư cho giáo dục, y tế… rất lớn, do đó các địa phương không đủ khả năng bố trí nguồn vốn dành cho nhà ở xă hội.
Hiện tại, mới chỉ có một số địa phương như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, B́nh Dương… đang bắt đầu triển khai thực hiện thí điểm các dự án đầu tư xây dựng nhà ở xă hội, nhưng hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều gặp khó khăn trong việc huy động nguồn vốn ngân sách của địa phương, bố trí quỹ đất để phát triển quỹ nhà ở xă hội.
Trong giai đoạn 2009 – 2015: cần đầu tư xây dựng khoảng 184.000 căn hộ
Theo Bộ Xây dựng để đầu tư phát triển quỹ nhà ở xă hội, góp phần tăng nguồn cung để b́nh ổn thị trường bất động sản, đáp ứng yêu cầu an sinh xă hội, trong thời gian tới Chính phủ cần bổ sung Chương tŕnh đầu tư xây dựng nhà ở xă hội giai đoạn 2009-2015.
Về nguyên tắc, việc phát triển quỹ nhà ở xă hội tuân thủ theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định số 90/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Cụ thể, quỹ nhà ở xă hội được tạo lập do Nhà nước đầu tư và các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, trong đó Nhà nước trực tiếp đầu tư xây dựng quỹ nhà ở xă hội dành để cho thuê và khuyến khích, tạo điều kiện ưu đăi đối với các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng quỹ nhà ở xă hội dành để cho thuê, thuê mua.
Việc đầu tư xây dựng nhà ở xă hội được gắn với các dự án nhà ở thương mại, dự án khu đô thị mới hoặc các khu dân cư hiện có để kết hợp khai thác hệ thống hạ tầng sẵn có. Đồng thời phải được đầu tư căn cứ theo nhu cầu thực tế và phải được quản lư chặt chẽ trong quá tŕnh đầu tư xây dựng cũng như khai thác, sử dụng theo quy định của pháp luật, tránh thất thoát, lăng phí. Các dự án đầu tư xây dựng nhà ở xă hội phải được lập, thẩm định và phê duyệt theo quy định của pháp luật về nhà ở và pháp luật về xây dựng.
Các đối tượng và điều kiện để được thuê, thuê mua nhà ở xă hội thực hiện theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định số 90/2006/NĐ-CP và phải thuộc diện chưa được Nhà nước hỗ trợ về nhà ở (chưa được phân phối nhà ở, chưa được giao đất làm nhà ở, chưa được mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của Nghị định số 61/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở và các h́nh thức hỗ trợ khác). Ngoài ra, người được thuê, thuê mua nhà ở xă hội phải đáp ứng điều kiện về thu nhập b́nh quân hàng tháng theo quy định. Đối với các trường hợp có mức thu nhập b́nh quân thấp hơn mức tối thiểu theo quy định tại khoản 3 Điều 25 của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP, UBND cấp tỉnh căn cứ theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng để quyết định cho thuê, thuê mua nhà ở xă hội hoặc thực hiện hỗ trợ, tạo điều kiện cải thiện nhà ở theo h́nh thức quy định tại Điều 64 của Luật Nhà ở.
Phương thức cho thuê mua được ưu tiên áp dụng đối với các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức đang làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân (là đối tượng có thu nhập thường xuyên, ổn định, có khả năng chi trả 20% giá trị tiền thuê mua ngay sau khi kư hợp đồng theo quy định). Thời hạn cho thuê nhà ở xă hội trong hợp đồng tối đa là 5 năm, khi hết thời hạn nếu bên thuê có nhu cầu tiếp tục thuê, phải thực hiện thủ tục xác nhận vẫn thuộc đối tượng được thuê nhà ở xă hội.
Thời hạn cho thuê mua nhà ở xă hội do UBND cấp tỉnh quy định, nhưng tối đa không vượt quá 15 năm. Giá cho thuê, thuê mua nhà ở xă hội do UBND cấp tỉnh quy định đảm bảo nguyên tắc phù hợp với khung giá quy định tại Nghị định số 90/2006/NĐ-CP.
Quỹ đất để đầu tư xây dựng nhà ở xă hội, được h́nh thành từ nhiều nguồn. Theo đó, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch xây dựng đô thị gắn với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương để tạo quỹ đất đáp ứng nhu cầu đầu tư xây dựng quỹ nhà ở xă hội; Các chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại, dự án khu đô thị mới trên phạm vi địa bàn có trách nhiệm chuyển giao một phần diện tích đất theo quy định tại Nghị định 90/2006/NĐ-CP để các địa phương thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở xă hội; Chính quyền các địa phương tổ chức sắp xếp, bố trí lại quỹ nhà, đất (nhà xưởng, kho băi, các cơ sở sản xuất ô nhiễm...) đang được khai thác, sử dụng kém hiệu quả, không đúng mục đích, không phù hợp quy hoạch để chuyển đổi mục đích phục vụ nhu cầu phát triển nhà ở xă hội…
Để đảm bảo ổn định quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà ở xă hội, Bộ Xây dựng cũng kiến nghị Chính phủ, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, gồm: Luật Quy hoạch đô thị (ban hành mới), Luật Đất đai (sửa đổi, bổ sung) và các văn bản hướng dẫn thi hành do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, trong đó có các quy định cụ thể về việc quy hoạch, bố trí quỹ đất dành để phát triển nhà ở xă hội.
|
Theo Bộ Xây dựng, trong giai đoạn 2009 - 2015 cần đầu tư xây dựng khoảng 184.000 căn hộ tương đương 9.580.000 m2 sàn (mỗi năm khoảng 26.000 căn, tương đương 1.365.000 m2 sàn), nhằm giải quyết chỗ ở cho khoảng 30% số hộ gặp khó khăn về nhà ở tại khu vực đô thị. Tổng số vốn đầu tư của toàn bộ Chương tŕnh khoảng 49.000 tỷ đồng (tính theo mặt bằng giá tại thời điểm quư 3/2008), gồm vốn nhà nước (khoảng 25.600 tỷ đồng) dành để đầu tư xây dựng quỹ nhà ở xă hội thuộc sở hữu nhà nước để cho thuê, trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ khoảng 11.000 tỷ đồng, ngân sách địa phương khoảng 14.600 tỷ đồng; Vốn huy động của các thành phần kinh tế (khoảng 23.400 tỷ đồng) để đầu tư xây dựng quỹ nhà ở xă hội để cho thuê hoặc thuê mua.
Riêng năm 2009, dự kiến đầu tư từ ngân sách cho phát triển nhà ở xă hội khoảng 2.200 tỷ đồng, trong đó có khoảng 1000 tỷ đồng để triển khai các thủ tục chuẩn bị đầu tư (lập và phê duyệt quy hoạch; chuẩn bị mặt bằng; lựa chọn các chủ đầu tư; lập và phê duyệt dự án nhà ở xă hội theo quy định...); Khoảng 1.200 tỷ đồng đầu tư cho 02 địa phương đă triển khai thí điểm (Hà Nội và TP Hồ Chí Minh) để thực hiện xây dựng công tŕnh theo các dự án thí điểm đă được phê duyệt, trong đó nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ khoảng 600 tỷ đồng (Hà Nội: 300 tỷ đồng, TP Hồ Chí Minh: 300 tỷ đồng). |
Lan Hương
|