|
|
| Bà Trương Thị Mai - Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xă hội của Quốc hội -Ảnh: VNN | (HNMO) - "Chúng ta không nên chỉ cứng nhắc một phương pháp giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện là tổ chức, vận động các doanh nghiệp nhận họ vào làm việc, mà phải linh hoạt, tùy điều kiện từng người để có cách làm phù hợp", bà Trương Thị Mai, Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xă hội của Quốc hội đă trao đổi với báo giới bên lề kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII xung quanh Nghị quyết 16 của Quốc hội về việc thí điểm tổ chức, quản lư và dạy nghề cho người sau cai nghiện ở TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác trực thuộc Trung ương.
- Bà đánh giá như thế nào về hiệu quả cuả Nghị quyết 16 khi chỉ c̣n vài tháng nữa, Nghị quyết này sẽ hết thời gian thực hiện thí điểm?
- Theo tôi, thời điểm mà Quốc hội ban hành nghị quyết 16 là hết sức cần thiết v́ lúc đó, tất cả những h́nh thức sau cai nghiện áp dụng đều chưa đạt hiệu quả khi tỷ lệ tái nghiện quá lớn (khoảng trên 90%). V́ vậy, đề xuất của TP.HCM khi đó về mô h́nh sau cai nghiện được ủng hộ. Đây là cơ sở để Quốc hội ban hành Nghị quyết 16, nhằm dạy văn hóa, dạy nghề, giải quyết việc làm và rèn luyện nhân cách cho người cai nghiện, giúp họ tái hoà nhập cộng đồng.
Sau 5 năm thực hiện, đến tháng 8 này, thời gian thí điểm sẽ kết thúc. Chúng ta đánh giá lại kết quả thực hiện Nghị quyết để rút ra những vấn đề ǵ hiệu quả th́ chúng ta sẽ xem xét, bổ sung vào Luật pḥng, chống ma tuư sửa đổi. Những điểm c̣n băn khoăn th́ chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện và cái ǵ có thể đưa vào luật được th́ chúng ta xem xét để đưa vào.
- Theo bà, TP.Hồ Chí Minh có nên tiếp tục thực hiện cách làm theo Nghị quyết 16?
- Hiện nay vẫn đang có 2 loại ư kiến và mỗi loại ư kiến đều có quan điểm, lư lẽ riêng. Quan điểm thứ nhất là chắc chắn phải có thời gian quản lư sau cai nghiện cho những người đă cai nghiện. Dù họ trở về cộng đồng hay ở một cơ sở nào đó th́ cũng phải có một thời gian theo dơi và giúp đỡ họ. Trước đây, sau khi hết thời gian cai nghiện tại cơ sở, chúng ta cho họ về nhà luôn, không có ai theo dơi, giúp đỡ, thậm chí gia đ́nh cũng không có trách nhiệm đầy đủ. Do vậy người cai nghiện về thường rơi vào t́nh trạng không có ai giúp đỡ, hỗ trợ một cách tận t́nh. V́ vậy, chỉ có một số ít người có thể vượt qua được, c̣n đa số tái nghiện. C̣n đa số ư kiến đồng t́nh với việc đưa người nghiện về cai nghiện tại cộng đồng.
Việc cai nghiện tập trung th́ cũng đang có 2 loại ư kiến: Một là kéo dài thời gian cai nghiện (thêm 1 năm đối với nhóm có nguy cơ tái nghiện cao) th́ việc sửa luật sẽ đơn giản hơn. Hai là vẫn có một h́nh thức sau cai nghiện đối với nhóm có nguy cơ tái nghiện cao chứ không phải là tất cả như hiện nay đang làm thí điểm. Nhưng dù thế nào th́ cách làm hiện nay cũng không c̣n phù hợp. Bộ Lao động và Thương binh-Xă hội phải đứng ra tổ chức và có thể phải triển khai mẫu ở một số cơ sở. Tuy nhiên, có những nơi, nhóm nguy cơ tái nghiện cao ít, có nơi nhóm này lại cao, nên chúng ta không thể thực hiện đồng loạt trong cả nước được.
- Quan điểm của bà nghiêng về phương án nào?
- Chúng tôi đang đề nghị áp dụng một h́nh thức gọi là sau cai nghiện tập trung với nhóm có nguy cơ tái nghiện cao, và việc này do Chính phủ đứng ra tổ chức thực hiện chứ không giao cho các địa phương làm. C̣n đại trà th́ nên đưa về cộng đồng đề chính quyền địa phương, xă hội, gia đ́nh trực tiếp giúp đỡ cho người đă thực hiện xong thời gian cai nghiện.
Thời gian thực điểm thí điểm Nghị quyết 16 rất dài, song qua rút kinh nghiệm cho thấy, các văn bản hướng dẫn để triển khai nghị quyết này rất kém thậm chí là bất cập. Bà giải thích việc này thế nào?
Tôi nghĩ là do quá tŕnh chuẩn bị, khi quyết định xong th́ mới ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành, thời hạn làm cũng chỉ có 5 năm, cho nên việc chậm ban hành các văn bản cũng là một trong những hạn chế mà chúng tôi đă tŕnh bày trong bản báo cáo tŕnh Quốc hội. Chính sự chậm trễ này cũng đă ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả của Nghị quyết.
- Vậy theo bà, đâu là nguyên nhân của sự chậm trễ?
- Trách nhiệm chủ quan là các bộ ngành không khẩn trương thực hiện, cái khó nữa là do đây là lần đầu tiên chúng ta thực hiện nên chưa có kinh nghiệm. Việc vừa nghiên cứu, vừa ban hành văn bản cũng gây ra nhiều chậm trễ và bất cập trong thực hiện.
Nhiều người cho rằng đề án sau cai nghiện mà TP.HCM đang thực hiện thí điểm vừa không có hiệu quả mà c̣n gây lăng phí tới hơn 200 tỷ đồng, bà nghĩ sao?
Thực ra phần lớn tiền được dùng để đầu tư xây dựng cơ bản và chi thường xuyên. Hiện chúng ta vẫn đang tiếp tục sử dụng các cơ sở cai nghiện. Theo báo cáo của Bộ Công an, hiện số người nghiện ma tuư trên cả nước là hơn 170 ngh́n người, nhưng chúng ta mới giải quyết được cho 1/3 trong số đó đến các cơ sở cai nghiện. Bộ Công an cũng dự báo, mỗi năm số người nghiện mới tăng khoảng 1 vạn. Như vậy, nếu biết sử dụng các cơ sở cai nghiện một cách hợp lư, chúng ta vẫn có thể khai thác tiếp. C̣n đối với tiền chi thường xuyên, mỗi người cai nghiện chỉ được vài ngh́n/ngày để tổ chức cuộc sống, ngoài ra họ phải lao động thêm để bổ sung cho sinh hoạt tại các trung tâm.
- Thưa bà tại sao các học viên lại không muốn tự nguyện cai nghiện?
Hầu hết người nghiện ma tuư đều có tâm lư như thế. Tôi đă làm công tác thanh niên nhiều năm này và thấy rằng tỷ lệ tự nguyện cai nghiện là rất thấp. Nhưng chúng ta vẫn phải khuyến khích đối với những người có ư chí mạnh và mới nghiện tự nguyện cai nghiện. Chúng ta cũng khuyến khích việc cai nghiện tại gia đ́nh.
Bà có thể cho biết, chính sách tới đây sẽ có những đột phá nào để đem lại hiệu quả tốt nhất cho những người sau cai nghiện có thể tái hoà nhập cộng đồng và không tái nghiện?
Chúng ta cần xây dựng các quy tŕnh cụ thể khi đưa những người nghiện từ các cơ sở trở về cộng đồng, từ việc chính quyền tiếp nhận như thế nào, các tổ chức đoàn thể giúp đỡ ra sao... TP.HCM hiện nay đang thành lập nhóm cán sự xă hội. Thành viên của các nhóm này trước mắt tập trung làm việc với những người nghiện ma tuư, nhưng sau này có thể mở rộng hoạt động của họ sang các lĩnh vực xă hội khác, tiến tới họ có thể là các cán sự xă hội chuyên trách.
- C̣n việc dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai th́ thế nào?
- Tôi nghĩ đối với người nghiện ma tuư việc dạy nghề, giải quyết việc làm là một vấn đề hết sức khó khăn. Chúng ta nên linh hoạt các phương pháp, không nên quá cứng nhắc, cứ nhất thiết phải tổ chức, vận động các doanh nghiệp nhận họ vào làm việc. Tùy thuộc vào điều kiện của từng người để có hướng giải quyết phù hợp. Thực tế, có một số người, tŕnh độ văn hóa rất thấp, tay nghề yếu và sức khỏe cũng không được tốt, không phù hợp vào làm ở các doanh nghiệp. Chúng ta cũng nên khuyến khích gia đ́nh những người cai nghiện tự giải quyết việc làm cho con em ḿnh.
|
Kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết 16
Tại Thành phố Hồ Chí Minh: Tính từ đầu năm 2003 tới ngày 31/03/2008 các Trung tâm của Thành phố đă cai nghiện cho 36.244 lượt người, trong đó có 30.681 người đă được chuyển sang giai đoạn quản lư sau cai nghiện.
Về dạy văn hóa, trong gần 5 năm, các Trung tâm đă tổ chức cho 42.713 lượt người theo học các lớp văn hóa. Đến nay, cơ bản hoàn thành xóa mù chữ, tiến tới hoàn thành phổ cập tiểu học, mở rộng trung học cơ sở và bổ túc trung học phổ thông đối với người sau cai nghiện. Đặc biệt, các Trung tâm đă tổ chức các lớp đại học từ xa ngành Xă hội học và Quản trị kinh doanh cho cán bộ, nhân viên và người sau cai. Niên khóa 2007-2008 có 589 sinh viên, trong đó có 111 người sau cai nghiện theo học đại học.
Về dạy nghề, đă dạy cho 31.403 lượt người, trong đó dạy nghề dài hạn tương đương bậc 3/7 cho 1.700 người.
Về tạo việc làm cho người sau cai nghiện, tính đến cuối năm 2007, Thành phố đă tạo việc làm cho 24.181 học viên và người sau cai với 4 phương thức: làm việc và định cư tại cơ sở cai nghiện, tại Cụm Công nghiệp Nhị Xuân (có 11 doanh nghiệp đi vào hoạt động sử dụng 1.035 lao động, trong đó 470 là người sau cai và người tái ḥa nhập cộng đồng), trong các Tổng Đội lao động t́nh nguyện tại các công tŕnh xây dựng cơ bản phục vụ dân sinh, tổ chức đi làm việc ở các doanh nghiệp ngoài Trung tâm (đă thí điểm đưa 289 người sau cai nghiện đi lao động hàng ngày tại một số doanh nghiệp ngoài Trung tâm với thu nhập b́nh quân 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng/người/tháng)
Tính đến 31/03/2008, Thành phố đă có quyết định giải quyết cho 13.771 người sau cai tái ḥa nhập cộng đồng, có 11.566 người về sống với gia đ́nh ở thành phố và 683 người được chuyển về các tỉnh khác, số c̣n lại 1.522 người về làm việc tại Cụm Công nghiệp Nhị Xuân, tái định cư hoặc ở lại làm việc tại một số Trung tâm. Trong đó số người về tái hoà nhập cộng đồng là 12.249 người (không tính số về Khu Công nghiệp Nhị Xuân). Đến nay đă có 9.361/13.771 người tái ḥa nhập cộng đồng có việc làm (chiếm 70%); trong đó gia đ́nh tự tạo việc làm cho con em họ chiếm 60,8% (5.692/9.361 người), số c̣n lại 40% được địa phương giúp đỡ, giới thiệu việc làm tại các cơ sở sản xuất-kinh doanh...
Theo báo cáo của các xă phường, quận huyện của thành phố, mới phát hiện được 687 người tái nghiện trên 11.566 người tái hoà nhập cộng đồng, chiếm tỷ lệ 6%, trong đó đối tượng tái nghiện chủ yếu trong thời gian 6 tháng đầu mới về tái ḥa nhập (455/687 người).
Tại Hà Nội: Tính đến hết tháng 2/2008, Thành phố đă xét duyệt, chuyển 1.490 học viên đủ điều kiện tham gia Đề án sau cai sang giai đoạn 2 (đạt xấp xỉ chỉ tiêu 1.500 người của Thành phố đề ra). Có 1295 người sau cai đă được dạy nghề, trong đó 834 người đă được cấp bằng nghề, chứng chỉ nghề theo đúng tiêu chuẩn của Tổng cục Dạy nghề.
Ngoài tham gia lao động sản xuất chung của Trung tâm, người sau cai được bố trí thực hành và lao động sản xuất theo đúng nghề được học, vừa kết hợp luyện tay nghề vừa có thu nhập bảo đảm 100% người sau cai có việc làm ổn định với thu nhập b́nh quân 250.000đ-300.000đ/tháng, một số đạt 500.000đ/người/tháng.
|
Hồng Vân (ghi)
|