|
|

|
|
Sử dụng máy ly tâm tổng hợp hoạt chất Oseltamivir để bào chế thuốc Tamiflu chống cúm H5N1 tại Viện Hóa học (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam). | (HNM) - Sắp tới, BCH Trung ương Đảng sẽ bàn bạc và đưa ra những quyết sách về phát triển đội ngũ trí thức. Đây là vấn đề vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài và có tầm ảnh hưởng lớn đến con đường phát triển của đất nước.
Trong số hàng triệu trí thức, trí thức khoa học (TTKH) xứng đáng được xếp ở vị trí đầu tiên. Từ số báo hôm nay, báo Hànộimới giới thiệu loạt bài viết “Trí thức khoa học - “vàng mười” của đất nước” với mong muốn có thêm một góc nh́n về vấn đề lớn này.
Một trong những phong cách lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất lắng nghe tiếng nói của trí thức. Khi đất nước c̣n khó khăn, trong 14 vị tham gia Chính phủ lúc đó phần lớn là nhân sĩ trí thức như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Phan Anh... và những trí thức theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh từ nước ngoài trở về như Trần Đại Nghĩa, Phạm Huy Thông, Tôn Thất Tùng... đă có nhiều cống hiến to lớn cho đất nước. Nay, tinh thần ấy cần được phát huy hơn bao giờ hết...
Làm ǵ, ở đâu?
Theo GS Nguyễn Văn Hiệu th́ TTKH thời ḱ đổi mới có 6 cống hiến lớn, góp phần tăng trưởng kinh tế và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Cụ thể: khai hoang Đồng Tháp Mười; sản xuất thuốc sốt rét từ cây thanh hao hoa vàng; hệ thống công tŕnh điều khiển lũ ở tứ giác Long Xuyên; tiến bộ kĩ thuật trong nông nghiệp và thủy sản; phát triển một số ngành công nghiệp kĩ thuật cao; ứng dụng kĩ thuật hiện đại trong y tế. Nhưng điều đáng tiếc là bộ phận có đóng góp đáng kể và trưởng thành trong quá tŕnh này mới chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ...
GS Nguyễn Xuân Hăn (ĐH Quốc gia Hà Nội) cho biết, trong gần 9.000 tiến sĩ được điều tra, khoảng 70% giữ chức vụ quản lư và 30% thực sự làm chuyên môn... Nếu tỉ lệ này là thực th́ trong gần 2 vạn tiến sĩ hiện có, số người làm nghiên cứu chỉ khoảng gần 6.000. Những công bố gần đây cho thấy, số lượng các bài báo trong lĩnh vực khoa học xă hội - nhân văn đăng trên tạp chí, kỉ yếu hội nghị, hội thảo trong và ngoài nước thường chiếm trên một nửa tổng số bài nghiên cứu của nền khoa học nước nhà. Lĩnh vực có số bài báo chiếm tỉ lệ ít nhất hầu hết thuộc về khoa học tự nhiên, có năm chỉ chiếm 8,4%. Trên mặt bằng chung, dù chưa có thống kê chính thức nào nhưng theo nhận định của một số nhà khoa học đầu ngành, riêng lĩnh vực sáng chế kĩ thuật th́ số có thể đưa vào áp dụng thực tiễn chỉ khoảng 10-30% tổng số sáng chế. Đó là chưa kể đến các nghiên cứu khoa học xă hội thường đưa ra kiến nghị chung chung là: cần tăng đầu tư, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ư thức, đổi mới cơ chế chính sách...
Trên các diễn đàn, giới khoa học phần nhiều đều cho rằng chính sách cho KHCN nói chung và cho trí thức nói riêng là chưa thỏa đáng so với chất xám họ bỏ ra. Nếu như nông nghiệp sau 20 năm có khoán 10 “cởi trói” đă phát triển với tốc độ nhanh th́ khoa học lại chưa được vậy. Nhà báo Hữu Thọ từng kể một câu chuyện thu hút người tài ở một địa phương nọ, rằng họ đưa ra cơ chế thu hút nhân tài bằng việc tiến sĩ cứ về làm việc th́ sẽ có nhà đẹp, hưởng lương vượt khung cao ngất. Nghe theo lời mời gọi này, có tám ông tiến sĩ về th́ năm sau có bảy ông ra đi. Đây giống như “phần nổi của tảng băng ch́m” nhiều năm qua chưa giải quyết được và nay là thời điểm để hi vọng “băng sẽ được phá”.
Chủ trương đúng, thực hiện chưa trúng
Trong thời đại ngày nay, cách mạng KHCN hiện đại phát triển nhanh chưa từng có. Nhiều nước sử dụng kịp thời các thành tựu đó đă tạo ra những bước phát triển mạnh mẽ. Để rút ngắn khoảng cách phát triển, một số nước và vùng lănh thổ như Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a, Đài Loan đă phát huy lợi thế về tiềm năng trí tuệ của dân tộc, mà ṇng cốt là đội ngũ trí thức nên chỉ mất khoảng 30-40 năm để hoàn thành công nghiệp hóa. Đó cũng chính là khát vọng của dân tộc, là mục tiêu trong chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta nhiều năm qua. Nhưng cũng phải nh́n nhận lại rằng, từ quyết sách đến thực hiện c̣n có một khoảng cách và bộc lộ không ít bất cập.
Cả nước có trên 1.100 cơ sở nghiên cứu khoa học với tỉ lệ thuộc nhà nước là gần 50%. Thực tế cho thấy, đội ngũ trí thức trong các cơ quan khoa học và trường đại học, một bộ phận rất quan trọng của đội ngũ trí thức nước ta đă bị tụt hậu rơ rệt so với các nước trong khu vực cũng như so với yêu cầu của sự phát triển kinh tế của đất nước. Chủ nghĩa b́nh quân và tư duy hành chính kéo dài nhiều năm đă là một trong những nguyên nhân làm giảm sút sức sáng tạo và nhiệt huyết của một bộ phận nhà khoa học. Đó đă, đang và sẽ là điểm yếu trong quá tŕnh hội nhập quốc tế. Các cơ quan quản lư và giới khoa học đă thấy rơ điều đó song đến nay các giải pháp đưa ra vẫn thiếu tính tổng thể và khả thi.
Cũng chọn định hướng phát triển CNXH như Việt Nam, Trung Quốc nhiều năm qua đă có sự “chuyển ḿnh” thực sự và công cuộc mở cửa của nước này có sự đóng góp quan trọng của TTKH. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy, công tác trí thức của nước này 30 năm qua có cốt lơi là chính sách đối với đội ngũ trí thức với mục đích tuyển chọn được nhân tài, sử dụng được năng lực chuyên môn của họ nhằm đóng góp cho sự nghiệp phát triển CNXH mang đặc sắc Trung Quốc. Nước này đă và đang thực hiện mạnh mẽ kế hoạch thu hút trí thức ngoài Đảng tham gia vào lănh đạo một số bộ, ngành; thu hút Hoa kiều về xây dựng đất nước... Với khá nhiều nét tương đồng trong quá tŕnh phát triển, bài học của Trung Quốc đáng để chúng ta suy nghĩ.
Trở lại câu chuyện Bác Hồ với giới trí thức, trong một bài viết của GS Đặng Phong được báo chí đăng tải gần đây có trích đăng lời của ông Phan Anh như sau: “Tôi (tức Phan Anh) không phải là cộng sản, đến nay vẫn không phải là đảng viên nhưng tôi cộng tác với Đảng. Trong Chính phủ đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đă cử tôi làm Bộ trưởng Bộ Quốc pḥng và để cho tôi chủ động t́m lấy những cục trưởng của 7-8 cục. Họ đều là anh em trí thức, trong đó chỉ có một người là đảng viên. Điều mấu chốt là Chủ tịch Hồ Chí Minh áp dụng chính sách tín nhiệm đối với trí thức”.
Bài học về trọng dụng “nguyên khí quốc gia” ấy vẫn thời sự hơn bao giờ hết...
Đan Nhiễm
|