|
(HNM) - Sông Đáy vẫn hiền ḥa chảy như ngàn năm, nhưng đôi bờ giờ đây dần vắng bóng dâu xanh. Ḍng sông không rộng răi như ngày đón hàng ngh́n người chèo đ̣ từ Mỹ Đức sang Ứng Ḥa hỗ trợ giành chính quyền cách mạng. Trên những nẻo đường làng cũng chẳng c̣n đâu âm thanh của “‘tằm ăn rỗi”.
Trong ḍng chảy của cuộc sống hiện đại, tôi trở lại vùng quê ven sông Đáy này để cảm nhận không khí tháng tám và nhớ về h́nh ảnh xứ sở dâu tằm Phù Lưu Tế của 63 năm về trước…
Kư ức một thời
Ông Châu “sử”, ông Châu “báo” là cách gọi thân mật của người dân về Đại tá Nguyễn Ngọc Châu, nguyên Phó Chủ tịch Hội CCB huyện Mỹ Đức. Hôm nay, ông vừa là nhân chứng lịch sử của quê hương cách mạng, vừa là người giúp chúng tôi gặp gỡ những “người muôn năm cũ” ở Phù Lưu Tế: Ông Trịnh Thế Hậu, 80 tuổi, đảng viên duy nhất của xă được nhận Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng; bà Nguyễn Thị Chén, Anh hùng lao động, nguyên đại biểu Quốc hội khóa III, IV, V - họ là những người chứng kiến thời khắc giành chính quyền cách mạng - 1945.
- Mỹ Đức quê tôi những năm 1944, đầu năm 1945 sục sôi khí thế cách mạng - ông Hậu kể - Bấy giờ cả huyện có 4 tổng, 112 làng, hơn 55.000 dân. Đầu năm 1942, tổ chức Việt Minh đầu tiên được thành lập ở An Mỹ; sau đó lần lượt ra đời ở Vĩnh Lạc, Thượng Lâm; các tổ cứu quốc cũng h́nh thành ở các xă. Tôi tham gia đội tự vệ cứu quốc của xă Phù Lưu Tế từ năm 17 tuổi, làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ cách mạng và bảo vệ an ninh thôn xóm để nhân dân yên tâm lao động sản xuất.
Ông Hậu hồi tưởng: Nạn đói khi đó hoành hành. Người từ Thái B́nh, Hà Nam đến Mỹ Đức kiếm ăn chết đói đầy đường; có người gục lả bên xó đ́nh, góc chợ, nhiều người chết không quan ván. Chỉ trong thời gian ngắn, cả xă Phù Lưu Tế có hơn bốn chục người chết v́ đói. Lúc đó, Tỉnh ủy Hà Đông chủ trương “Không để một hạt thóc, một đồng xu lọt vào tay bọn Nhật”; đội tự vệ ở Phù Lưu Tế, Tế Tiêu, Vĩnh Lạc đă bắt giữ thuyền thóc của Nhật trên sông Đáy và chặn giữ hàng chục gánh thóc mà bọn lư dịch gánh nộp cho Nhật, đem chia cho dân.
Ông Châu cười và lôi ra mấy tập nhật kư: - Sở dĩ tôi rất nhớ là v́ may mắn được học hành từ nhỏ, lại có thói quen thấy ǵ viết nấy, thích ghi tất cả những việc diễn ra. Một tập ghi thời niên thiếu trước 1954; mấy quyển nhật kư chiến trường, nhật kư 30-4, hơn 600 bài báo viết trong những năm làm phóng viên Tạp chí Quân đội đến khi về hưu (1990) làm cộng tác viên các báo; 17 năm làm Phó chủ tịch Hội CCB Mỹ Đức - là quăng thời gian tôi t́m hiểu thêm về lịch sử huyện ḿnh, xă ḿnh.
Qua lời giới thiệu của Bí thư Đảng ủy Nguyễn Thị Xuyến, chúng tôi biết thêm: Đảng bộ Phù Lưu Tế nhiều năm vững mạnh liên tục; thu nhập đầu người đạt 6 triệu đồng/năm, số hộ nghèo c̣n 13,6%. Nhiều phong trào đoàn thể được duy tŕ, đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh...
Anh hùng dâu tằm và tâm nguyện giữ nghề
Qua câu chuyện kể của những người cao niên, thấy phảng phất sự nuối tiếc nghề tằm tơ khi nó ngày càng mai một. Anh hùng lao động Nguyễn Thị Chén rất kiệm lời khi kể về ḿnh. Tham gia công tác ở xă, “cố thủ” chức Phó chủ nhiệm HTX dâu tằm hàng chục năm, nhiều người khuyên lên huyện làm cán bộ xí nghiệp ươm tơ nhưng bà bảo nếu ai cũng thích làm cán bộ th́ ai làm dân? Tôi h́nh dung ra h́nh ảnh của bà Chén, ngày ngày cắp cuốn sổ và cái nón theo bà xuống Tế Tiêu, qua Xuy Xá, Phùng Xá, cuốc bộ hàng chục cây số, kiểm tra từng lứa tằm, từng ruộng dâu tốt - xấu thế nào, bươn bả ngược xuôi với nghề: Bây giờ th́ mắt kém, chân run rồi. Cái nghề “ăn cơm đứng” đầu tắt mặt tối nhưng nhờ nó mà người già, trẻ con có việc làm thường xuyên; chả như nay, phải đi làm thuê, kiếm việc khắp nơi. Bà Chén thở dài sườn sượt: Tiếc chứ! Giá như xưa, có lúc HTX ươm tơ của tôi xuất 5-7 tấn kén mỗi ngày…
Nguyên Bí thư Đảng ủy Nguyễn Thị Sáu, vợ đại tá Châu (thời kỳ chống Mỹ bà là nữ dân quân bắn giỏi, được gặp Bác Hồ tại Đại hội Chiến sỹ thi đua toàn quốc năm 1962; đó cũng chính là thời kỳ bà cùng lănh đạo xă đưa nghề dâu tằm Phù Lưu Tế phát triển nhất). Theo bà Sáu, lúc thịnh vượng, cả xă trồng hơn 120 mẫu dâu (trong tổng số 500 mẫu toàn huyện), mỗi năm xuất 30-40 tấn kén, thu nhập từ nghề chiếm trên 30% tổng giá trị. Phù Lưu Tế v́ thế mà ngày ấy được mệnh danh là “thủ đô dâu tằm” của miền Bắc, được đón Thủ tướng Phạm Văn Đồng và rất nhiều đoàn khách đến tham quan. Xí nghiệp dâu tằm của huyện Mỹ Đức đứng vững trong thời bao cấp phần nhiều là bởi có vùng nguyên liệu Phù Lưu Tế. Bà Chén là người có công lớn với nghề được phong danh hiệu Anh hùng lao động năm 1962.
Nhưng điều mà bà Chén, bà Sáu và không ít người dân Phù Lưu Tế day dứt là hiện nhiều lao động không có việc làm. Xă cũng chịu khó “cấy” nghề thêu, mây giang đan, chẻ tăm nhưng chẳng nghề nào trụ lại được. Nhiều người vào tận miền Nam kiếm việc hoặc làm thuê cho các làng nghề khác. Trong khi đó, con tằm cái kén h́nh như ngày càng ít người tha thiết.
Phải, xưa dọc bờ Đáy xanh ngắt băi dâu và nghề chăn tằm truyền thống đă đem lại danh tiếng cho Phù Lưu Tế. Và h́nh ảnh con tằm rút ruột nhả tơ đă được xem như biểu tượng của ḷng thủy chung, đức tính cần cù, chịu thương chịu khó của bao thế hệ người làng dâu. Giờ, loăng bóng cây dâu, vắng tiếng “tằm ăn rỗi”; th́ sự tiếc nuối của những người một thời sống chết với nghề như bà Chén, ông Nguyện, bà Sáu - âu cũng là điều dễ hiểu...
Bằng Giang
|