|
|
|
Chăm sóc đàn lợn tại xă Văn Đức (huyện Gia Lâm). Ảnh: Trung Kiên | (HNM) - Thiên tai, dịch bệnh đă và đang tác động rất lớn đến ngành Chăn nuôi nước ta. Thiếu thực phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa là nguy cơ hoàn toàn có thể xảy ra. PV báo Hànộimới đă trao đổi về vấn đề này với Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT) Hoàng Kim Giao.
- Xin ông cho biết những khó khăn mà ngành chăn nuôi đang phải đối mặt.
- Ngành chăn nuôi hiện đang gặp nhiều khó khăn. Thứ nhất, dịch tai xanh năm 2007 đă khiến đàn lợn giảm 1,1%. Thứ hai, đợt rét đậm, rét hại làm 182 ngh́n con trâu, ḅ chết. Số lượng trâu, ḅ chết thậm chí c̣n cao hơn tốc độ tăng trưởng loài gia súc nhai lại trong năm 2007 (tăng 2,34%, nhưng thiệt hại 3,69%). Thứ ba, dịch tai xanh vẫn tiếp tục lan rộng, dịch cúm gia cầm chưa được khống chế hoàn toàn. Điều này đă khiến tốc độ tăng trưởng của Ngành chậm lại. Chăn nuôi lợn chiếm tới 70% GDP của ngành. Nếu không khống chế được dịch tai xanh ở lợn th́ tốc độ tăng trưởng sẽ không đạt chỉ tiêu 8%-9% trong năm 2008, mà chiến lược phát triển chăn nuôi đă đề ra. Để đạt được mục tiêu, phải nhanh chóng khống chế dịch, đẩy mạnh sản xuất.
- Với diễn biến dịch bệnh hiện nay, Ngành có thể đáp ứng đủ thực phẩm tiêu dùng nội địa, góp phần kiềm chế lạm phát?
- Dịch tai xanh xảy ra sẽ khiến sản lượng thịt lợn giảm. Tuy nhiên, nếu khống chế được dịch và t́m mọi biện pháp thúc đẩy chăn nuôi từ nay đến cuối năm sẽ đủ đáp ứng nhu cầu trong nước. Bên cạnh lợn, gà, có thể phát triển nhiều loại vật nuôi khác như: dê, thỏ, cừu… Đây là những loại vật nuôi có số lượng không lớn, chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng nếu phát triển mạnh ở nhiều nơi sẽ bù đắp thiếu hụt về thịt lợn. Dịch cúm gia cầm đang được khống chế, do vậy phải phát triển mạnh chăn nuôi gia cầm, bởi đây là loại vật nuôi có khả năng quay ṿng nhanh.
- Số lợn nái bị chết trong các đợt dịch là khá cao. Liệu có thể sản xuất đủ con giống đáp ứng nhu cầu khôi phục chăn nuôi khi khống chế được dịch?
- Ở các nước chăn nuôi tiên tiến, đàn lợn nái chỉ chiếm khoảng 10% tổng đàn, có nơi thậm chí chỉ 9%. Trong khi đó, tỷ lệ nái của nước ta là 13%-14%, thời điểm chưa có dịch lên tới 14,4%. Theo báo cáo của các địa phương, tỷ lệ lợn nái bị chết chiếm khoảng 2%, nhưng mức độ giảm đàn nái đến đâu vẫn chưa thể thống kê chính xác. Ngành chăn nuôi vẫn chưa khai thác hết tiềm năng sinh sản của đàn lợn nái (mới khai thác được khoảng 70%). Do vậy, thời gian tới phấn đấu khai thác thêm từ 10% đến 15% nữa để đáp ứng yêu cầu về con giống khi cần thiết. Muốn vậy, ngoài việc bảo vệ tốt số nái hiện có, phải tập trung chăm sóc, tăng tỷ lệ thụ thai, số con sinh sản trong một lứa, giảm số lợn mới sinh bị chết…Cục cũng khuyến khích các doanh nghiệp nhập con giống về để đáp ứng cho nhu cầu chăn nuôi nếu cần.
- Thức ăn chăn nuôi là một trong những nhân tố ảnh hưởng đáng kể tới ngành chăn nuôi. Việc quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi hiện nay ra sao thưa ông?
Cục Chăn nuôi đang phối hợp với Cục Trồng trọt xây dựng quy hoạch vùng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Nh́n chung, năng suất ngô, sắn… của nước ta c̣n thấp. Năng suất ngô b́nh quân hiện nay là 3,9 tấn/ha, trong khi b́nh quân thế giới là 5 tấn/ha. Ngay tại Việt Nam, một số nơi năng suất đă đạt từ 7 tấn đến 9 tấn/ha. Vấn đề ưu tiên hiện nay là kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, đưa giống mới vào sản xuất để tăng năng suất. Ngoài phát triển nguyên liệu, người chăn nuôi cũng được khuyến cáo chăm sóc gia súc, gia cầm đúng quy tŕnh kỹ thuật để giảm chi phí. B́nh quân cả nước hiện sử dụng khoảng 3,2kg-3,3kg thức ăn tinh/1kg sản phẩm chăn nuôi. Tại các hộ dân, tỷ lệ này lên tới 3,4kg-3,5 kg/kg sản phẩm. Trong khi đó, các trang trại phát triển chăn nuôi sử dụng trung b́nh 2,8kg thức ăn tinh/kg sản phẩm, thậm chí có nơi chỉ 2,3kg-2,4 kg/kg sản phẩm. Tổ chức tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người chăn nuôi chăm sóc đúng kỹ thuật sẽ giảm khoảng 0,3kg-0,4kg thức ăn/kg sản phẩm, góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất.
- Xin cảm ơn ông!
Nguyễn Đức thực hiện
|