|
|
Kê khai nộp thuế tại Cục Thuế TP.HCM |
(HNMO) - Hôm nay, 7/5, các đại biểu Quốc hội thảo luận về Dự án Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi). Việc giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 28% xuống 25% như trong Dự án Luật được nhiều đại biểu tán đồng.
Trong quá tŕnh đổi mới cơ chế quản lư kinh tế, các quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp đă được chú trọng xây dựng, từng bước hoàn thiện, góp phần cải thiện môi trường đầu tư hấp dẫn, thông thoáng, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Tuy nhiên, đă qua một số lần sửa đổi, song đến nay Luật thuế thu nhập doanh nghiệp vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định, như chưa quy định cụ thể về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế; quy định về ưu đăi thuế c̣n phức tạp, dàn trải; mức thuế suất tương đối cao so với một số nước trong khu vực ; căn cứ tính thuế chưa thực sự bảo đảm tính minh bạch, cụ thể; c̣n phức tạp khi áp dụng cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp thuế theo quy định của Luật quản lư thuế... Những bất cập này đ̣i hỏi Luật phải được sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn.
Theo nhận định của Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội, Dự thảo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp mà Chính phủ xây dựng đă thể hiện định hướng trong Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, như chính sách khuyến khích đầu tư có trọng điểm; thu hẹp diện ưu đăi thuế; nâng cao tính minh bạch về đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, các khoản chi không được trừ...; giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 28% xuống 25%...
Tuy nhiên, đối chiếu với yêu cầu sửa đổi đặt ra đối với Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành, Ủy ban Tài chính – Ngân sách nhận thấy vẫn c̣n một số vấn đề cần tiếp tục xem xét.
Một trong những yêu cầu trong Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 là chính sách thuế phải bảo đảm nhu cầu chi tiêu thường xuyên của Nhà nước và giành một phần cho tích lũy phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong lần sửa đổi này, Chính phủ dự kiến giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 28% xuống c̣n 25%.
Đa số ư kiến trong Uỷ ban Tài chính – Ngân sách tán thành việc giảm thuế suất nhằm tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài. Điều chỉnh giảm mức thuế suất thể hiện ưu đăi theo diện rộng đi đôi với hạn chế ưu đăi theo diện hẹp, khắc phục t́nh trạng dàn trải, phức tạp trong chính sách ưu đăi hiện hành. Mặc dù việc giảm thuế suất có thể ảnh hưởng đến nguồn thu trước mắt, nhưng bù lại sẽ khuyến khích đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng nghĩa với tăng trưởng nguồn thu một cách vững chắc.
Tuy nhiên, một số ư kiến chưa tán thành với việc giảm thuế suất v́ cho rằng, thuế thu nhập doanh nghiệp hiện đang là nguồn thu chủ yếu trong cơ cấu thu ngân sách nhà nước. Việc giảm thuế suất từ 28% xuống c̣n 25% có thể dẫn đến giảm thu ngân sách nhà nước, nhất là ngân sách địa phương. Mặc dù theo giải tŕnh của Chính phủ th́ mục đích của việc giảm thuế là nhằm tăng khả năng cạnh tranh của nước ta trong thu hút vốn đầu tư và bảo đảm mặt bằng thuế chung với các nước trong khu vực, song hiện nay một số nước trong khu vực vẫn đang áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp trên 28% (cao hơn mức thuế hiện hành của Việt Nam). Hơn nữa, mức thuế suất cao hay thấp chỉ là một trong những yếu tố thu hút đầu tư. Trên thực tế, việc áp dụng mức thuế suất thuế hiện hành 28% theo đánh giá của nhiều chuyên gia th́ không gây cản trở trong việc thu hút đầu tư vào nước ta.
Về việc áp dụng thuế đối với tổ chức có thu nhập không chia, theo Ủy ban Tài chính – Ngân sách, cần có sự phân biệt những đặc thù giữa tổ chức có hoạt động kinh doanh thông thường và các tổ chức không hoạt động kinh doanh. Đối với trường hợp là tổ chức có hoạt động kinh doanh th́ áp dụng nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp c̣n đối với trường hợp là tổ chức không kinh doanh, có thu nhập, hoạt động v́ mục đích từ thiện, nhân đạo th́ cần cân nhắc lại việc áp dụng nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Trong trường hợp cần thiết phải áp dụng nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với một số tổ chức có thu nhập không chia nhằm bảo đảm sự b́nh đẳng giữa các tổ chức này với các doanh nghiệp như theo Tờ tŕnh của Chính phủ th́ đề nghị Chính phủ giải tŕnh rơ hơn tính đặc thù về hoạt động, nguồn gốc thu nhập và các khoản chi phí được trừ để có quy định cụ thể, phù hợp với thực tế.
Về thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, Điều 8 của Dự thảo Luật quy định: “Doanh nghiệp có hoạt động chuyển nhượng bất động sản phải xác định riêng thu nhập chịu thuế từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản để kê khai nộp thuế riêng”.
Về vấn đề này, đa số ư kiến trong Ủy ban Tài chính – Ngân sách tán thành với quy định của Dự thảo Luật v́ cho rằng, hoạt động chuyển nhượng bất động sản có những đặc thù so với các lĩnh vực, ngành, nghề khác. Do tính phức tạp của các chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế nên phải hạch toán để tính thuế thu nhập doanh nghiệp riêng. Hơn nữa, hoạt động kinh doanh bất động sản trong những năm tới vẫn có thể là hoạt động có nhiều lợi thế, thu lợi nhuận cao, cần thiết phải có sự điều tiết bằng cơ chế riêng.
Tuy nhiên, có ư kiến cho rằng, kinh doanh bất động sản là một trong các hoạt động kinh doanh; thu nhập từ kinh doanh bất động sản là một trong các khoản thu nhập của doanh nghiệp để tính thuế. V́ vậy, đề nghị không tách riêng thu nhập từ kinh doanh bất động sản ra khỏi thu nhập doanh nghiệp. Trường hợp do tính phức tạp của các chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế đối với thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản th́ có thể tách ra để xác định riêng, nhưng cuối cùng vẫn phải hạch toán vào tổng thu nhập chịu thuế trong năm của doanh nghiệp để tính số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Về các khoản chi cho người lao động, Điểm “đ” và điểm “k” khoản 2 Điều 10 của Dự thảo Luật quy định về các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm: “đ. Phần chi vượt mức theo quy định của pháp luật có liên quan về trích lập dự pḥng; tiền trang phục; tiền ăn giữa ca”, “k. các khoản chi trả cho người lao động không được quy định trong hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể theo quy định của Bộ luật lao động” .
Một số ư kiến cho rằng, quy định trên có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động. V́ nếu khoản chi cho người lao động không được trừ khi tính chi phí th́ sẽ không động viên doanh nghiệp quan tâm đến đời sống người lao động. V́ vậy, để bảo đảm quyền lợi của người lao động, tạo điều kiện cho người sử dụng lao động chăm lo đời sống cho người lao động, đề nghị bỏ quy định về khống chế mức tiền ăn giữa ca.
Tuy nhiên, đa số ư kiến cho rằng, việc quy định như Dự thảo Luật là chặt chẽ, vừa nhằm bảo vệ lợi ích của người lao động, vừa khắc phục t́nh trạng doanh nghiệp lợi dụng pháp luật về việc cho phép trừ các chi phí cho người lao động để khai khống các khoản chi nhằm trốn thuế.
Ngoài ra, nhiều nội dung khác trong Dự thảo Luật cũng được đánh giá là chưa bảo đảm tính cụ thể, như về thuế suất; thời hạn, đối tượng hưởng ưu đăi thuế; điều kiện được trừ các khoản chi phí..., đề nghị Chính phủ cần nghiên cứu để quy định chi tiết hơn.
|
Đại biểu Nguyễn Hồng Sơn (Hà Nội): Không nên giới hạn mức chi cho quảng cáo
Về tỷ lệ giới hạn tối đa 10% đối với chi phí quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị, tiếp khách, môi giới trong chi phí được trừ khi xác định thu nhập tính thuế: Thực tế có nhiều doanh nghiệp không chi hết 10% cho quảng cáo nhưng trong quá tŕnh hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp sẽ phải dành một khoản chi rất lớn cho mảng này, nếu chúng ta khống chế th́ sẽ khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn.
Tôi cho rằng không nên kê khai riêng thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản để nộp thuế theo thuế suất chung. Việc quy định "nếu doanh nghiệp được hưởng ưu đăi đầu tư th́ thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản không được ưu đăi thuế và nếu có lỗ th́ chỉ được bù trừ với lăi từ hoạt động này trong 5 năm tiếp theo mà không được bù trừ với lăi từ các hoạt động kinh doanh khác" cũng không hợp lư v́ thực tế, chu ḱ kinh doanh của các dự án đầu tư bất động sản lớn thường kéo dài tới 10-15 năm mới kết thúc. Thời gian 5 năm đầu, các doanh nghiệp chưa thể có lăi.
Đại biểu Trần Thị Quốc Khánh (Hà Nội): Ủng hộ giảm thuế suất thuế TNDN c̣n 25%
Tôi cho rằng việc giảm thuế suất thuế TNDN từ 28% xuống 25% là hợp lư, nhưng Chính phủ cũng nên nghiên cứu lộ tŕnh giảm dần mức thuế này, đi đôi với xây dựng hệ thống kiểm soát để tránh trốn thuế.
Một điểm khiến tôi băn khoăn là Dự thảo luật thuế TNDN quy định thuế suất đối với lĩnh vực dầu khí từ 25% đến 50% và Chính phủ quy định chi tiết Điều này. Tôi cho rằng, dầu khí là tài nguyên của đất nước, do vậy mức thuế phải do Quốc hội quyết định và mức thuế phải được tính toán phù hợp hơn.
| Vân An
|