|
|
|
Nhờ dự án "Điện ảnh học đường" học sinh của 4 trường tiểu học của VN đă được biết đến sự dí dỏm trong phim "Rasmus và Gă lang thang" | (HNM) - “Điện ảnh - học đường” là một dự án đă có thâm niên 20 năm ở Thụy Điển, nhưng chỉ mới thí điểm ở ta được 2 năm. Học đường đón nhận điện ảnh như một phương tiện giáo dục, khuyến khích sự sáng tạo của trẻ thông qua một loại h́nh nghệ thuật tổng hợp hấp dẫn.
Điện ảnh đến với học đường cũng có thể coi như những bước đầu tiên “nhen nhóm”, góp phần tạo dựng một nền văn hóa điện ảnh cho nước nhà. Hội thảo về chủ đề này trong khuôn khổ dự án “điện ảnh-học đường” do Viện phim Thụy Điển và Viện phim Việt Nam, Vụ Giáo dục Tiểu học (Bộ GD-ĐT) hợp tác đă nói được nhiều điều thú vị.
Bà Bitte Eskilson- Giám đốc phụ trách thanh thiếu niên, Viện phim Thụy Điển cho hay: “Chương tŕnh điện ảnh học đường đă triển khai được 20 năm và hiện có mặt ở 179 trên tổng số 290 địa phương của Thụy Điển”. Tuy nhiên “điện ảnh không phải là môn học trong nhà trường ở Thụy Điển. Điện ảnh là công cụ, là phương tiện biểu cảm cho học sinh để trẻ tham gia vào xă hội khi chúng trưởng thành”.
Với con mắt “xanh” của nhà phê b́nh, mặc dù không tham gia dự án này, nhưng TS. Ngô Phương Lan (Trưởng pḥng Nghệ thuật - Cục Điện ảnh) đă chia sẻ sâu sắc với quan điểm trên: “Điện ảnh học đường có khả năng cung cấp cho các em kiến thức điện ảnh, bồi dưỡng thẩm mỹ điện ảnh (thông qua việc chiếu phim thường xuyên và trao đổi tại các CLB điện ảnh trong nhà trường), kích thích tính năng động, sáng tạo của trẻ”. Điều này theo chị c̣n góp phần h́nh thành văn hóa điện ảnh, bao gồm: kiến thức nhất định về điện ảnh, tŕnh độ cảm thụ tác phẩm và một cái “nền” thẩm mỹ điện ảnh cơ bản.
Lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn gần đây đề cập nhiều đến việc “đào tạo khán giả” hay “khán giả lư tưởng”, chính là nói về sự mong mỏi này. Đó phải là sự bồi dưỡng có quá tŕnh. Một khi đă hiểu về điện ảnh, khán giả sẽ biết đánh giá đúng tác phẩm, thúc đẩy sự phát triển của môn nghệ thuật này. Xiếc cũng vậy và nhạc giao hưởng cũng tương tự. Giám đốc Liên đoàn xiếc Việt Nam từng nói đến sự cần thiết phải phổ cập xiếc với cách thức “chơi xiếc” trong trường học. Tài năng trẻ violon Bùi Công Duy cũng mong mỏi sẽ có những buổi ḥa nhạc miễn phí cho trẻ em.
Vậy, thực tế sau hai năm triển khai thí điểm tại 4 trường tiểu học của Việt Nam, điện ảnh-học đường đă được đón nhận thế nào ?
Viện Phim Việt Nam đă tập huấn cho các trường tiểu học Kim Đồng và Lê Văn Tám (Hà Nội) và hai trường ở TP Hồ Chí Minh về quy tŕnh và kỹ thuật làm phim, t́m kiếm ư tưởng, xây dựng kịch bản, kỹ thuật dựng phim, dựng h́nh... Cô hiệu trưởng Cao Thị Ngân, Trường tiểu học Lê Văn Tám chia sẻ: “Các em đă rất háo hức, có nhiều ư tưởng sáng tạo, có em c̣n nói: từ khi được cầm máy quay, tự ḿnh ghi lại được những clip đầu tiên, các em cảm thấy vui sướng vô cùng và thấy cảnh vật xung quanh như đẹp hơn, có ư nghĩa hơn”. Cô hiệu trưởng Vơ Thị Thu Oanh, Trường tiểu học Kim Đồng cho biết : “Trường đă thành lập CLB điện ảnh học đường với sự tham gia của 20 học sinh các khối lớp 3-4-5. Các cô giáo và học sinh của trường đă thực hiện được những bộ phim ngắn “Chia sẻ” và “The Teddy bear”. Phim do chính các em viết kịch bản, diễn và quay. Các cô giúp thêm về phân cảnh, biên tập”.
Kinh nghiệm từ Thụy Điển cho thấy, điện ảnh học đường đă góp phần đẩy lùi những ảnh hưởng xấu từ phong trào xem video từng gây đau đầu ở Thụy Điển cách đây 20 năm. Nhà phê b́nh Ngô Phương Lan cũng cho rằng: “Khi các em có vốn kiến thức điện ảnh th́ ít nhiều sẽ biết chọn phim mà xem, không “đắm đuối” vào những phim độc hại. Bên cạnh đó, việc thực hành làm phim giúp các em hiểu rơ quy tŕnh làm ra một tác phẩm điện ảnh, từ đó h́nh thành “sức đề kháng”, tránh ngộ nhận hay lẫn lộn giữa phim và đời có thể dẫn đến những hành vi đáng tiếc”.
Những ư kiến khác như “Người lớn hăy tập nh́n đời bằng đôi mắt trẻ thơ” - nhà biên kịch Đoàn Minh Tuấn; “Thảo luận phim, vẽ tranh theo phim-một hoạt động bổ ích hấp dẫn trẻ em” - Nguyễn Thị Thanh Hương (TT Nghiên cứu nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh TP Hồ Chí Minh) lại cho thấy những góc nh́n khác về điện ảnh học đường. Đó là “chúng ta được khám phá thế giới nội tâm của các em, chúng ta có một kho tư liệu qua phim của chính các em để hiểu về sự khác nhau giữa các thế hệ trẻ”. Thiết nghĩ điều này cũng liên quan đến việc xây dựng những bộ phim cho trẻ em mà hầu như nền điện ảnh của chúng ta “c̣n chưa có” (nhận định của TS Hoàng Như Yến - Viện trưởng Viện Phim Việt Nam).
Hy vọng, tiếng nói từ hội thảo này sẽ góp phần đưa điện ảnh học đường đến với trẻ nhiều vùng, miền khác một cách bền vững, chiến lược hơn như mong mỏi của những người trong cuộc.
Mai Thi
|