|
|

|
|
Nghiên cứu tại khoa Khoa học và công nghệ vật liệu (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội). | (HNM) - Các nghiên cứu gần đây cho thấy, tỉ lệ đầu tư cho đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp (DN) Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,2-0,3% doanh thu. Đây là một tỉ lệ quá thấp so với các nước trong khu vực như Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc 10%. Tỉ lệ đổi mới máy móc thiết bị ở ta hàng năm cũng chỉ đạt 8-10%, trong khi ở các nước trong khu vực có tỉ lệ 15-20%...
Mù mờ về ươm tạo công nghệ
Thống kê nhỏ nêu trên đủ để thấy rằng DN Việt Nam v́ điểm yếu ấy mà sức cạnh tranh trên thị trường thường không cao. Trong số hàng chục tập đoàn kinh tế, DN lớn của Việt Nam hiện nay, để xác định đâu là DN công nghệ cao (CNC), với các mặt hàng sản xuất chủ lực mang thương hiệu “made in Vietnam” đủ sức cạnh tranh trên thương trường hầu như chưa có. Một trong những lư do chính dẫn đến t́nh trạng trên là các đơn vị này chưa chú trọng đến vấn đề ươm tạo công nghệ cao (ƯTCNC).
Trái với ta, các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới cũng đồng thời là các tập đoàn công nghệ lớn đặc biệt chú trọng đến ƯTCN. Nhiều nguồn tin cho biết 50% nhân công của hăng Nokia (Phần Lan) chuyên làm việc trong các pḥng thí nghiệm, tức nhiệm vụ của họ chỉ là để nghiên cứu các công nghệ mới. Không đâu xa, khu CNC Tân Trúc (Đài Loan) chỉ có khoảng 100.000 người làm việc, sản xuất hai sản phẩm chính là màn h́nh tinh thể lỏng và chíp máy tính. Hàng năm, giá trị hàng hóa mà họ tạo ra lên đến 46 tỉ USD (số liệu 2004). B́nh quân một người tạo ra sản phẩm có giá trị 0,5 triệu USD. Trong khi đó tại Việt Nam năm 2007 một người ở độ tuổi lao động đóng góp GDP trung b́nh là 1.500 USD. So sánh như vậy để thấy là người lao động trong lĩnh vực CNC có năng suất gấp nhiều lần so với lao động thông thường. Đằng sau sự vững mạnh của các tập đoàn kinh tế, DN lớn th́ đều có bóng dáng của nghiên cứu khoa học mà nổi bật nhất là công tác ƯTCNC luôn phải đi trước một bước.
Một vài năm trở lại đây, việc ƯTCNC mới chỉ manh nha trong một vài trường ĐH khối công nghệ như: Bách khoa Hà Nội, Bách khoa TP Hồ Chí Minh... Có rất ít DN như FPT đă bỏ hẳn một khoản kinh phí hỗ trợ các tài năng trẻ phát triển các sản phẩm mới mà thực chất là ƯTCNC. Hầu như các tập đoàn kinh tế, DN chưa thấy công bố suất đầu tư dành cho nghiên cứu hoặc có đầu tư nhưng hiệu quả ra sao và sản phẩm đó có giành được chỗ đứng trên thị trường hay không.
Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học, công nghệ (KHCN) Nguyễn Văn Lạng, khái niệm và hiểu biết về ƯTCNC của DN nước ta c̣n rất hạn chế và đồng nghĩa với đó là đầu tư cho công việc này chỉ là nhỏ giọt hoặc không có ǵ. ƯTCNC với thế giới là việc làm tất yếu để phát triển nhưng ở nước ta nó chưa được quan tâm đúng mức.
Thiếu cơ chế khuyến khích
Trong số các mô h́nh ƯTCNC ở nước ta, có thể khẳng định rằng đi trước một bước chính là các quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài. Nổi bật là Quỹ đầu tư mạo hiểm IDG (Mỹ) với số vốn là 100 triệu USD đă rất thành công với mô h́nh VinaGame - công ty chuyên về tṛ chơi trực tuyến, cho thấy ƯTCNC mang lại lợi nhuận như thế nào. Nhiều nguồn tin cho biết, IDG sẽ tiếp tục đưa vào Việt Nam 300 triệu USD trong những năm tới để hỗ trợ các DN CNC quy mô vừa và nhỏ mà thực chất của nó là ƯTCNC. Những việc làm này ắt hẳn không phải là ngẫu nhiên.
Những ngày qua, dư luận rất quan tâm đến việc một nhóm nghiên cứu đă công bố xử lư thành công ô nhiễm nước Hồ Văn bằng chế phẩm không độc hại với môi trường LTH-100 mà ít biết rằng chế phẩm này ra đời có sự giúp đỡ của Vườn ươm DN CNC Ḥa Lạc (HBI). Cùng với nhóm nghiên cứu trên, HBI c̣n có 7 nhóm ƯTCNC đang hoạt động hứa hẹn sẽ cho ra mắt một số sản phẩm trong thời gian tới. Nhưng do hạn chế về diện tích nên dù có nhiều nguyện vọng xin được hỗ trợ, HBI cũng không đáp ứng được.
Tuy mới manh nha phát triển nhưng trên thực tế, ƯTCNC đang bộc lộ một số hạn chế. Đó là đề tài nghiên cứu có thể thành công hoặc không do đặc thù của nghiên cứu khoa học nên rất cần sự hợp tác, thống nhất giữa các bên tham gia cũng như phía các trường ĐH. Có những vướng mắc như khi đối tác đặt vấn đề mua lại công nghệ hay chuyện DN muốn hợp tác đầu tư để triển khai trong khi cơ chế về chuyển giao chưa có, làm hạn chế đến sự vận hành công việc. Ngoài ra, sự bất cập thể hiện cả trong vấn đề sở hữu trí tuệ, cơ chế tài chính...
Một bất cập chung về hoạt động KHCN ở nước ta hiện nay là DN chưa chú trọng đến nghiên cứu khoa học và ƯTCNC lại càng hiếm. Nhà nước hiện chiếm đến 70% trong tổng kinh phí cho công tác KHCN của cả nước và số c̣n lại là từ các nguồn khác, trong đó có DN. Trong khi đó, tỉ lệ này ở các quốc gia phát triển có sự thay đổi vị trí, DN phải là đối tượng đầu tư cho KHCN nhiều nhất. Khi không quan tâm đến ƯTCNC của riêng ḿnh, đương nhiên muốn sản phẩm có doanh thu, lăi suất cao đối với các DN Việt Nam sẽ là điều... không tưởng! Khi chưa có “bản sắc” riêng th́ việc Việt Nam chỉ là một nền sản xuất gia công sẽ c̣n tiếp tục kéo dài trong nhiều năm tới.
Thế Dũng
|