|
(HNM) - Chuyện xảy ra đă được gần 600 năm. Đó là vào thời Lê Thái Tông, niên hiệu Thiệu B́nh (1434), triều đ́nh tiến hành xây dựng một số công tŕnh văn hóa, tín ngưỡng ở ngoài phạm vi kinh thành.
Tấm bản đồ Thăng Long mang tên Hồng Đức cho thấy xu hướng kinh thành mở rộng về phía nam, tây nam. Trong quá tŕnh đó, triều đ́nh đă phải tiến hành di dân, nói theo cách nói hiện đại của chúng ta ngày nay là “giải phóng mặt bằng”. Rất nhiều làng ven đô đă phải di dời nhường chỗ cho các công tŕnh xây dựng mới.
Một trong những nơi đó là khu vực xây dựng đàn tế Xă Tắc, Nam Giao, nơi mà sau này mang một địa danh hành chính là Xă Đàn kề liền Ô Chợ Dừa thuộc quận Đống Đa hiện nay. Phát hiện khảo cổ học gần đây nhất ở vùng Xă Đàn này đă cung cấp tư liệu cư trú nhiều đời ở vùng đất này, từ thời dựng nước, Bắc thuộc, Lư Trần trước khi xây dựng đàn miếu một cách quy mô. Gạch kiến trúc dùng để xây dựng phổ biến là gạch có niên đại Lê và sự xuất hiện trên các loại bản đồ Thăng Long ổn định trong suốt thời Lê, Nguyễn một địa danh “Nam Giao Điện” ở khu vực này cho phép các nhà nghiên cứu giả định có một công cuộc di dân giải phóng mặt bằng quy mô diễn ra vào đời nhà Lê để mở rộng hơn đàn tế đă có từ thời Lư Thái Tông. Địa vực giải phóng mặt bằng này hẳn rộng hơn nhiều so với diện tích phân bố di tích khảo cổ học mới phát hiện. Có thể h́nh dung nó tương ứng với khu vực hành chính Xă Đàn cổ (thời Nguyễn)1. Vùng đất này thời xưa thuộc vào một địa danh lớn hơn : Kim Liên. Đ́nh Kim Liên hiện c̣n và nằm cách không xa nơi phát hiện đàn Xă Tắc. Sách Đại Nam Nhất thống chí c̣n cho biết việc nhà Lê lập đàn cúng thần Cao Sơn - một trong số Hùng Vương, con của Lạc Long Quân ở phường Kim Liên (nay thuộc phường Phương Liên, Đống Đa, Hà Nội). Đền thờ Cao Sơn lập ra vào thời này do Lê Tung viết văn bia. Nơi đây xưa kia vốn thuộc phạm vi cai quản của huyện Thọ Xương phủ Hoài Đức và đều nằm sát bên trong viền đê La Thành. Bản đồ Đồng Khánh xác nhận vị trí Nam Giao Điện ở gần Kim Liên Môn ( cửa La Thành ở phường Kim Liên, tức Ô Chợ Dừa sau này ). Vậy, những người dân sống ở đây đă di dời đi đâu ?
Trong một chuyến điền dă nghiên cứu tại tổng Hà Nam, nay thuộc huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, nơi c̣n ủ chứa băi cọc Vạn Muối tương truyền có liên quan đến chiến thắng Bạch Đằng của Trần Hưng Đạo, chúng tôi đặc biệt lưu ư đến quá tŕnh khai hoang lấn biển lập làng của 19 ḍng họ đến đây vào niên hiệu Thiệu B́nh thời Lê Thái Tông (1434). Trong số này có tới 17 ḍng họ tương truyền do việc kinh thành Thăng Long mở rộng đă di dời từ làng Kim Liên, phủ Hoài Đức, kinh thành Thăng Long(2). Hai tấm bia có niên đại Hồng Đức năm thứ 2 (1471) và Hồng Đức năm thứ 26 (1495) thời Lê Thánh Tông, hiện c̣n ở Miếu Tiên Công thôn Trung Bản, xă Liên Ḥa, huyện Yên Hưng nói rơ việc triều đ́nh vào những năm đó đều cử quan lại về đo đạc phong cấp đất quân điền cũng như xác nhận đất khai khẩn của các ḍng họ này ở vùng đất mới thuộc huyện Yên Hưng, phủ Hải Đông, đạo An Bang. Triều đ́nh đă chính thức cấp đất ở xă Vị Dương cho hai vị Hoàng Kim Bảng và Đồng Đức Hấn
(theo chế độ quân điền đất công) mỗi người được 5 mẫu ruộng, 5 sào vườn (thổ viên). Xác nhận số ruộng tự khai khẩn (bản điền) là 1343 mẫu 2 sào 4 thước 5 tấc. Cấp đất ở xă Phong Lưu cho hai ông Hoàng Lung, Hoàng Linh(3) mỗi người cũng như trên, đất khai khẩn 1599 mẫu 8 sào 13 thước 8 tấc. Cấp tiếp đất ở xă Lương Quy cho hai ông Đào Bá Lệ, Đỗ Độ mỗi người quân điền cũng như trên, ruộng tự khai khẩn 1087 mẫu 3 sào 3 tấc.
Như vậy theo tấm bia này ta có thể nhận ra những ḍng họ sau đă từ Thăng long di dời để giao đất cho triều đ́nh xây dựng : Ba chi họ Hoàng, họ Đồng, họ Đào và họ Đỗ. Nhiều tài liệu lịch sử địa phương muộn hơn c̣n cho biết ḍng họ Nguyễn có tới 5 chi từ Kim Liên về đây. Đ́nh làng Kim Liên (Hà Nội) vẫn c̣n suy tôn họ Nguyễn là một trong hai ḍng họ lớn nhất của làng. Ngoài ra c̣n các ḍng họ khác như họ Lê, họ Vũ, họ Ngô, họ Phạm, họ Bùi, họ Dương.
Vùng Hà Nam - Yên Hưng có thể coi như một ḥn đảo lớn h́nh thành do lắng đọng bồi tích cửa sông Bạch Đằng. Theo quy luật ḍng chảy, ḥn đảo này trở thành một cù lao khổng lồ chia ḍng Bạch Đằng làm hai nhánh lớn đổ ra biển : nhánh chính vẫn là ḍng sông Bạch Đằng cuồn cuộn chảy ra phía đông và nhánh phụ là con sông Chanh vắt chéo lên phía đông bắc. Chính v́ vậy, Hà Nam bị tách khỏi đất liền bốn bề là sông biển. Hà Nam trở nên tương đối khô cạn có lẽ vào đời nhà Trần. Có một số bằng chứng chứng tỏ khu vực Đông Bắc c̣n hay bị ngập lụt trong suốt thời kỳ Bắc thuộc đến tận thời nhà Lư. Những ḍng họ từ kinh thành đến khai khẩn vùng này vào đời Hồng Đức mới chỉ có gần ngàn người nay đă tạo ra một tổng mới với hơn 5 vạn nhân khẩu. Đặc biệt họ vẫn c̣n tự hào và ǵn giữ được cốt cách của người Thăng Long. Các món ăn dâng cúng tiên công và cả sự cầu ḱ trong từng chi tiết lễ hội trong ḍng tộc và cả cộng đồng đều toát lên phẩm chất kinh kỳ của những người con Thăng Long xa xứ.
Hàng năm, cùng với lễ hội xuống đồng truyền thống mồng 7 tháng Giêng âm lịch, người dân Hà Nam nô nức chuẩn bị lễ hội Tiên Công. Thờ tiên công là một nếp chung của người Việt ở nhiều làng xóm khai hoang lấn biển. Đó là việc tôn vinh, tưởng niệm đến những người đầu tiên tiến hành việc khai hoang lấn biển, mở đất lập làng. Nhưng ở vùng đất Hà Nam này, Tiên Công vốn là những người từ kinh thành Thăng Long đă truyền đời cho con cháu những nền nếp cao sang không giống bất kỳ lễ hội Tiên Công nào. Trước ngày hội chung ở miếu thờ chính đặt tại làng Cẩm La, các ḍng họ, chi họ đều mở những lễ hội riêng. Tại đó con cháu của ḍng tộc từ mọi nơi kéo về tiến hành các nghi lễ tôn vọng những bậc tiền nhân và ngưỡng vọng người đang đứng đầu ḍng tộc bằng các hoạt động dâng hương, dâng lễ, mừng tuổi, tặng thơ ca ngợi công đức. Một việc quan trọng thu hút toàn tâm sức của từng ḍng tộc là việc chuẩn bị lễ vật cho cuộc đại rước ra miếu Tiên Công chung, nơi mà từ mờ sáng ngày 7 tháng Giêng mọi ḍng tộc đều rước bàn thờ và khiêng vơng đưa các bậc lăo kiệt của ḍng họ ḿnh ra lễ vọng ở miếu chính đường. Dường như năm nào cũng có cuộc chạy đua ngấm ngầm giữa những ḍng họ nhằm tạo ra sự bất ngờ của quy mô và tính độc đáo của đám rước. Nhưng dù thế nào cũng không thể thiếu được biểu tượng một con sư tử (lân) kết bằng hoa quả đặt chính giữa bàn kiệu rước. Người ta thường nh́n vào quy mô và vẻ đẹp của con lân này để đánh giá đám rước. Với những ḍng họ lớn, đám rước quy mô, ngoài các đội múa vơ, múa lân, kèn trống hát xênh tiền th́ theo sau bàn kiệu rước là một kiệu vơng trang điểm lộng lẫy, nằm trên đó là một cụ già hồng hào đẹp lăo, mặc áo lụa dài, đầu đội khăn xếp tía đại diện cho ḍng tộc, xung quanh là con cháu, họ hàng ăn vận sang trọng như thể phô trương sự thịnh vượng của thế lực ḍng họ ḿnh.
Ngày nay, Hà Nam là nền tảng kinh tế - xă hội quan trọng nhất của huyện Yên Hưng. Đa phần cán bộ lănh đạo huyện và tầng lớp trí thức trong huyện xuất thân từ vùng đất này. Những người sành ẩm thực đều nhận ra sự tinh tế, khéo léo của các món ăn Yên Hưng - Quảng Yên. Đây chính là vùng mà khi thành lập tỉnh Quảng Yên để cai quản toàn vùng biển Đông Bắc, nhà Nguyễn và cả thực dân Pháp sau đó đă chọn làm nơi đặt thủ phủ. Do ít bị biến động của làn sóng công nghiệp hóa, thị trấn Quảng Yên c̣n giữ được khá nhiều kiến trúc Pháp cổ cũng như nền nếp sinh hoạt, ẩm thực của thị dân thời thuộc Pháp. Văn hóa Quảng Yên không chỉ là ghi nhận văn hóa thị dân thời thuộc Pháp mà c̣n ủ chứa sâu xa hơn một nền văn hóa Bạch Đằng, văn hóa kinh thành của những người dân Thăng Long xa xứ từ gần 600 năm nay.
Nguyễn Việt - Ngô Đ́nh Dũng
- - - - - - - - - -
(1) Đàn Nam Giao ở thành Nhà Hồ (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) có diện tích chừng 2 ha.
(2) Cũng có tài liệu nói là ở Đầm Sét, phường Kim Hoa, phủ Hoài Đức.
(3) Tên Nôm là Hoàng Nông, Hoàng Nênh
|