|
(HNM) - Từ đầu năm đến nay, “sản lượng” phôi thép của nước ta xuất khẩu đă tới hơn 100.000 tấn. Trong số này có hơn 1/4 là thép tái xuất khi c̣n chưa cập cảng nội địa. Mức giá phôi thép hiện tại đang ở mức cực kỳ hấp dẫn: 1.150 USD/tấn.
Theo một số đơn vị chuyên ngành, với giá xuất phôi thép như thế này, không sức sản xuất nào cho lại. Bởi thế, nhiều công ty trong nước đă xuất ngược phôi thép không kể đó là số lượng nhập từ trước hoặc sản xuất từ lúc giá thành c̣n thấp.
Hiện tượng này đă được báo Hànộimới nêu và cảnh báo từ hơn một tháng trước khi giá phôi thép trên thị trường thế giới c̣n chưa chạm mốc 1.000 USD/tấn.
Tuy nhiên, tại thời điểm này, Bộ Công thương cho rằng chưa áp dụng việc dừng xuất khẩu thép dù sẽ dự kiến đề xuất nâng thuế suất xuất khẩu phôi thép từ 2% lên 10% để tŕnh Chính phủ phê duyệt. Theo một tính toán về thực trạng sản xuất thép trong nước, số lượng thép tồn kho và t́nh h́nh tiêu thụ hiện nay, khả năng nước ta sẽ không thiếu thép trước tháng 9 tới.
Theo tính toán này, do việc điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ, lăi suất ngân hàng, các công tŕnh đầu tư công đang được rà soát, nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ bản đang được xem xét lại bởi mặt bằng lăi suất mới; trong khi đó, thị trường bất động sản lại vào thời kỳ nguội lạnh… đă khiến việc tiêu thụ thép trong nước trở nên không dễ dàng. Thế nhưng khó có ai dám chắc rằng cứ với đà “ḍng thép chảy ngược” sang Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Hàn Quốc… như thế này, liệu đến cuối năm, đặc biệt vào mùa khô - mùa xây dựng, nước ta có đủ thép hay không ? Nếu thiếu thép, lại phải nhập th́ bài toán nhập siêu sẽ làm t́nh h́nh c̣n căng thẳng hơn. Đây là bài toán phải được ngành và cơ quan chủ quản chủ động kiến giải, dự kiến phương án hành động, đề xuất giải pháp tối ưu tŕnh Chính phủ.
Chúng ta đă có những bài học kinh nghiệm về khả năng dự báo yếu kém khiến có lúc phải trả giá khi không lường hết khó khăn. Trước những thách thức tạm thời, mỗi ngành, mỗi đơn vị cần cân nhắc lợi ích chung – riêng, tính toán cục bộ nhưng cần lưu tâm đến cộng đồng, mưu cầu tiểu tiết vẫn phải hướng tới đại cục. Mặt khác ngành chủ quản phải có sự điều tiết khu vực, khi cần th́ đề xuất những phương án dự pḥng. Chỉ có tính toán, căn chỉnh một cách chủ động, các đơn vị, các ngành mới có thể sẵn sàng có phương án thích ứng với những hoàn cảnh mới.
Rơ ràng giờ đây nếu chúng ta biết “lo xa” sẽ ít phải “buồn gần”.
Bá Thi
|