Nguồn tin: Báo Hànộimới điện tử

http://www.hanoimoi.com.vn

 
Phải để người dân sống được bằng rừng và quư rừng như ruộng lúa
02/06/2008 19:49

Đại biểu Quốc hội, Giáo sư Nguyễn Lân Dũng - Ảnh: Thanh Sơn

(HNMO)
– Sáng 2/6, Quốc hội thảo luận về Dự án Luật đa dạng sinh học. Bên lề kỳ họp, Đại biểu QH, Giáo sư Nguyễn Lân Dũng trao đổi với báo giới rằng, để bảo vệ rừng, Dự thảo luật nên có quy định
về lợi ích của người dân, làm thế nào để người dân sống được bằng rừng và rừng đối với họ cũng quư như ruộng lúa.

Ông nhận xét ǵ về dự luật Đa dạng sinh học?

Luật này rất cần thiết và ra đời càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, trong luật phải có chế tài đi kèm và luật phải được thực hiện nghiêm túc. Hiện nay, chúng ta đang làm mất đi sự đa dạng sinh học từng ngày từng giờ bằng cách đốt rừng. Một khi rừng cháy như vậy th́ không chỉ cây cối, động vật chết mà cả vi sinh vật cũng chết.

Rồi th́ sa mạc hóa, đất bạc màu... đă làm sự đa dạng sinh học mất đi. Chúng ta đang ham chuộng những cây trồng năng suất cao, như ngô bioseed ở Hà Giang, nhưng kết quả là làm cho dân đói. Hà Giang là cao nguyên, đất mỏng, không có nước, không bón phân th́ ngô không mọc được. Nếu trồng giống ngô địa phương th́ bắp dù bé nhưng dân c̣n có thứ để mà ăn. Hay t́nh trạng phá rừng ngập mặn bừa băi để lấy đất nuôi tôm ở nhiều tỉnh ven biển, như thế th́ làm sao chúng ta giữ được đất phù sa bồi đắp cho bờ biển?

Theo ông, chúng ta nên đề ra các chế tài như thế nào cho đủ mạnh để ngăn chặn nạn phá rừng?

Từ lâu, tôi đă nói rằng chúng ta nên sử dụng lực lượng bộ đội để bảo vệ rừng, nếu không th́ phải trang bị vũ khí cho lực lượng kiểm lâm, có như vậy th́ rừng mới được bảo vệ hiệu quả.

Tôi mới đi Nêpan về. Đây là nước cực nghèo nhưng rừng th́ họ bảo vệ rất tốt. Họ ngăn rừng quốc gia chỉ bằng một sợi dây thép nhưng không người dân nào vào lấy một que củi, săn bắn một con vật.... Bởi v́ họ chia lợi nhuận thu được từ du lịch rừng cho người dân địa phương, nên dân người ta quư rừng lắm, coi rừng như ruộng lúa nhà họ. Rừng quốc gia của ḿnh cũng phải chia lợi ích cho những người dân sống xung quanh rừng để họ tham gia bảo vệ rừng. Dân địa phương sẽ giúp chống lâm tặc khai thác gỗ trái phép, săn bắt động vật quư hiếm... Chúng ta cũng nên cấm tuyệt đối các món ăn chế biến từ thịt thú rừng. Chẳng có lư do ǵ mà chúng ta không đóng cửa tất cả các cửa hàng kinh doanh mặt hàng này lại.

Ông nói rằng phải có cơ chế, chế tài để bảo vệ đa dạng sinh học. Vậy dự luật này có tạo cơ chế cho các nhà khoa học như ông trong việc bảo vệ đa dạng sinh học hay không?

 

Tôi thấy luật rất đầy đủ, nhưng chưa nghiêm lắm v́ thiếu tính cụ thể, phạt như thế nào, cấm như thế nào... đều chưa rơ, nhất là phần quy định về thực phẩm chuyển gen nặng nề quá, có nhiều thủ tục mà thực tế của chúng ta không thể làm được.

 

C̣n việc khai thác, bảo vệ các nguồn gen th́ sao, thưa ông?

 

Chúng ta không chỉ bảo vệ nguồn gen mà phải t́m, phát hiện nguồn gen mới. Tôi thấy trong luật thiếu phần phát hiện nguồn gen mới của vi sinh vật bởi nguồn gen mới của động vật, thực vật khó t́m lắm, ta khai thác hết rồi. Ta chỉ nên t́m những loài mới về vi sinh vật thôi, c̣n đối với thực vật chúng ta nên tận dụng những nghiên cứu của nước ngoài.

 

Tôi lấy ví dụ vừa qua, Trung Quốc đă làm một cuộc điều tra lớn về những cây chống ung thư, trong danh sách đó, tôi t́m thấy 50 cây Việt Nam chúng ta có, tôi đă công bố. Lẽ ra sau đó, chúng ta nên có chính sách khuyến khích trồng những cây này và khai thác sử dụng, nhưng chúng ta đă không làm. Trong khi đó, người Trung Quốc họ sang nước ta lùng mua. Đơn cử như cây bảy lá, một hoa bao nhiêu tiền họ cũng mua, họ nhặt mua từng cái mẩu. Dân ở Hoàng Liên Sơn thi nhau nhặt, bây giờ không thể t́m thấy loài cây này được nữa. Rất may là ở các vườn dược liệu của chúng ta vẫn c̣n một vài cây. Nếu như tôi là người có trách nhiệm, tôi sẽ huy động nhân, cấy mô cây đó để không chỉ dùng trong nước, mà có thể xuất khẩu, bán được với giá cao.

 

Theo ông, vai tṛ của người dân đối với việc bảo vệ đa dạng sinh học đă được xác định đầy đủ và rơ ràng trong luật hay chưa?

 

Theo tôi, người dân ở những vùng có rừng hiểu biết c̣n hạn chế, nên chúng ta phải vận động, tuyên truyền để họ hiểu luật này, phải giúp họ nhận thức được họ được lợi ích ǵ trong việc bảo vệ sự đa dạng sinh học đó. Nếu người dân không được lợi ích ǵ th́ họ sẽ ít quan tâm. Chúng ta phải làm thế nào để người dân sống được bằng rừng và rừng đối với họ cũng quư như ruộng lúa. Họ phải biết nếu họ tham gia bảo vệ rừng th́ họ phải giữ cái ǵ, được khai thác cái ǵ... Hiện nay điều này không rơ ràng nên cứ cái ǵ lợi là người ta lấy, khai thác trộm.

 

Gần đây, ở Cao Bằng có một bài học rất rơ là cây chè đắng. Lá chè đắng được dùng làm dược liệu, Trung Quốc họ mua với giá quá cao cho nên người dân cưa luôn cả gốc để bán. Bây giờ không c̣n cây chè cổ thụ nào, chúng ta phải trồng lại từ cây con con. Chính v́ vậy, chúng ta nên có điều khoản cụ thể hơn nữa về lợi ích của người dân trong việc khai thác sinh học.

 

Xin cám ơn ông!

 


Dự án Luật Đa dạng sinh học quy định về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học; quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát trển bền vững đa dạng sinh học.

Dự án Luật Đa dạng sinh học có 10 chương, 90 điều.

Chương I. Những quy định chung gồm 7 điều (từ Điều 1 đến Điều 7) quy định về: Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, áp dụng pháp luật, giải thích từ ngữ, nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học và những hành vi bị nghiêm cấm.

Chương II. Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học gồm 4 điều (từ Điều 8 đến Điều 11) quy định về: Yêu cầu, nội dung, lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và mối quan hệ với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và vùng.

Chương III. Bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên gồm 21 điều (từ Điều 12 đến Điều 32) quy định về: Mục đích, phân hạng và xác lập vị trí khu bảo tồn trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất; vườn quốc gia, khu dữ trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài hoang dã, khu bảo tồn cảnh quan; nội dung, trách nhiệm lập, thẩm quyền phê duyệt, tŕnh tự, thủ tục, hồ sơ, thẩm định, phê duyệt dự án thành lập khu bảo tồn; sử dụng đất trong khu bảo tồn trong một số trường hợp đặc biệt; phân khu chức năng và ranh giới khu bảo tồn; quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sinh sống, có hoạt động hợp pháp trong khu bảo tồn; ban quản lư, quy chế quản lư khu bảo tồn; quản lư vùng đệm của khu bảo tồn; báo cáo hiện trạng khu bảo tồn và kinh phí đầu tư phục hồi sinh thái và quản lư khu bảo tồn; phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên.

Chương IV. Bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật gồm 14 điều (từ Điều 33 đến Điều 46) quy định về: Các loài được ưu tiên bảo vệ; đề xuất, thẩm định, xem xét, quyết định việc đưa vào hoặc rút khỏi danh mục các loài được bảo vệ; điều tra, kiểm kê, lập hồ sơ của loài được bảo vệ; bảo tồn các loài thuộc danh mục được bảo vệ; thành lập và quản lý các cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học; quyền và trách nhiệm của chủ cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học; bảo vệ quần thể, khai thác, đánh bắt, nuôi sinh sản thương mại, vận chuyển, trao đổi, mua, bán, tiêu thụ, cứu hộ các loài hoang dă và bảo tồn các loài hoang dã đă được thuần hoá.

Chương V. Tiếp cận, đánh giá nguồn gen và chia sẻ lợi ích; lưu giữ và bảo quản mẫu vật di truyền gồm 10 điều (từ Điều 47 đến Điều 56) quy định về: Quyền sở hữu và quản lý nguồn gen; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được giao quản lý nguồn gen; đăng ký, thỏa thuận và cấp giấy phép tiếp cận nguồn gen; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tiếp cận nguồn gen; chia sẻ lợi ích từ việc tiếp cận nguồn gen; lưu giữ và bảo quản mẫu vật di truyền; đánh giá, quản lý thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn gen; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với tri thức về nguồn gen.

Chương VI. Quản lý an toàn sinh vật biến đổi gen và kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại môi trường gồm 18 điều (từ Điều 57 đến Điều 74) quy định về: Sinh vật biến đổi gen; lập, thẩm định báo cáo đánh giá rủi ro về sinh vật biến đổi gen; giấy chứng nhận mức an toàn sinh học; thông tin về sinh vật biến đổi gen; nghiên cứu tạo ra, khảo nghiệm, nhập khẩu sinh vật biến đổi gen; chế biến sản phẩm từ sinh vật biến đổi gen; tiếp thị, quảng cáo, mua, bán, vận chuyển, lưu giữ, thải bỏ sinh vật biến đổi gen; giải phóng sinh vật biến đổi gen ra môi trường; điều tra, lập danh mục, kiểm soát việc nhập khẩu, nuôi trồng, sự lây lan và phát triển của các loài ngoại lai xâm hại môi trường; công khai  thông tin về các loài ngoại lai xâm hại môi trường.

Chương VII. Hợp tác quốc tế về đa dạng sinh học gồm 3 điều (từ Điều 75 đến Điều 77) quy định về: Chính sách hợp tác quốc tế về đa dạng sinh học; hợp tác với các nước có chung biên giới và có các lợi ích liên quan đến đa dạng sinh học; tham gia, thực hiện các điều ước quốc tế về đa dạng sinh học.

Chương VIII. Cơ chế và nguồn lực bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học gồm 5 điều (từ Điều 78 đến Điều 82) quy định về: Điều tra, nghiên cứu khoa học, quản lý thông tin, số liệu và xây dựng cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học; báo cáo đa dạng sinh học quốc gia; tài chính cho bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học; phí đa dạng sinh học và chi trả cho bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học; bồi thường thiệt hại về đa dạng sinh học.

Chương IX. Trách nhiệm quản lý nhà nước về đa dạng sinh học gồm có 6 điều (từ Điều 83 đến Điều 88) quy định về: Thống nhất quản lý và phân công, phân cấp trách nhiệm quản lư nhà nước về đa dạng sinh học; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học; thanh tra, xử lư vi phạm pháp luật, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện và giải quyết tranh chấp về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học.

Chương X. Điều khoản thi hành gồm Điều 89 và Điều 90 quy định về: Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành.

 

 

Vân An (ghi)