| Nguồn tin: Báo Hànộimới điện tử |
http://www.hanoimoi.com.vn |
|
Ta nghe trong gió...
13/07/2008 08:58 |
||
|
Thu mua sứa tại Vụng 1, thị trấn Cô Tô.
Lởm chởm, sắc nhọn, cái giống có thể ăn cả xi măng ấy chả có vẻ ǵ là “thân mềm” cả. Sóng chưa bao giờ thôi đánh vào đấy, đôi khi dựng lên ào qua cầu tàu, nơi những ông xe ôm và chủ hàng ồn ào ới gọi. Thực ra “đại biểu” đón khách trước hết của Cô Tô lại là chú bé loắt choắt như thanh kẹo. Da đen nhẻm, mắt sáng, chú leo trèo thoăn thoắt từ trong khoang ra mạn tàu khách, luồn giữa những kiện bí, rau, can xăng, két bia chai và “bom” bia hơi Hạ Long (chả hiểu làm sao chúng không văng xuống biển ?). “Sinh ra và đang lớn lên” ở đảo, chú đă học hết lớp bảy, nghỉ hai năm nay rồi. “Cô giáo lấy thước kẻ sắt đánh vào lưng, mỗi hôm một đứa, cả lớp... Cô đă bị đuổi rồi, nhưng cháu chán đi học lại, tháng đôi lần mang hai chục triệu vào Vân Đồn đưa cho d́ mua hàng rồi đem ra. Chả sợ cái ǵ đâu ạ, xung quanh là biển, ai lấy của ḿnh được. Mẹ cho tiền ăn quà thích hơn là đi học...”. Đấy là những ǵ tôi khảo được ở chú bé lúc tàu c̣n trong vịnh Bái Tử Long, chứ khi ra đến cửa Đối rồi, th́ chỉ c̣n chống chọi với cơn vật vă nó đ̣i lộn hết những tim gan ḷng mề của ḿnh ra. Chú bé mang hàng và chiếc cầu tàu, vậy là đều “chở” tới cái ấn tượng đầu về một Cô Tô thật khắc nghiệt. Nhưng vào sâu bên trong th́ chả hẳn thế. Trời cao và trong, gió phóng khoáng thổi khiến lưng áo không bị dâm dấp. Ngay trong thị trấn có ruộng. Đang mùa gặt, người đàn bà bịt mặt “nin-ja” nhưng không đi xe máy như trong phố, dừng tay đảo thóc tận t́nh chỉ cho khách nhà dân có thể dẹp lại để chứa trọ, quán cơm duy nhất, mà chỉ là b́nh dân thôi, tất nhiên có rượu. “Nhà khách ủy ban lấy trăm ngh́n một pḥng ba giường. 11h đêm máy phát thị trấn tắt điện, nếu muốn chạy quạt trả thêm trăm ngh́n nữa. Ơ rô ấy à, nhà em với các cháu vẫn xem được”. Nghĩa là quư người lắm và c̣n lộ ra đuôi mắt rất dài, xưa chắc “tít” ra ǵ... Vùng Cô Tô có tên cổ là Chàng Sơn (Núi Chàng, chắc phải có “nàng” chứ ?), thuyền bè vùng Đông Bắc neo trú mà không định cư, v́ cướp biển bên Trung Hoa sang nhiều. Đầu thời Nguyễn, dân Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam sang xin ở, tổng đốc Hải An (Hải Dương - An Quảng) Nguyễn Công Trứ bèn lập làng, đồn binh. Có một cách giải thích tên đảo: sách cổ gọi đây là “Câu Đầu”, cái chỗ nhiều núi chụm lại giữa biển, người Hoa đọc là “Cú Xú”, ta “phiên” thành “Cô Tô”. Năm 1978 đảo có hơn sáu ngh́n người, chủ yếu Hoa, về gần hết, chính quyền đưa người trong đất ra theo chế độ kinh tế mới. Điện máy phát, trường học, trạm xá, đường, hồ thủy lợi, hồ an sinh mọc lên. Tàu khách - kiêm luôn tàu hàng - đi hàng ngày cuối tuần tăng chuyến cho cán bộ, bộ đội về đất - nghĩa là về cảng Cái Rồng ở đảo Vân Đồn, khi đó chưa thông với Cửa Ông bằng ba cây cầu như giờ. Năm 1994, Cô Tô tách thành huyện riêng gồm hai đảo Cô Tô và Thanh Lân, sau thêm đảo Trần, thế là thành “Trường Sa của Quảng Ninh” ngót 40 ḥn. Giữa trời đất trong lành, hải sản ngồn ngộn, dân kinh tế mới đẻ ngon lành, nhà nào cũng bốn năm đốt, dân số năm 2006 đă lên hơn năm ngh́n. Nhưng giờ họ đă kinh, v́ miệng ăn núi lở, và v́ trường sở cũng nhiều nỗi. Ruộng ít, những anh đến sớm có mảnh đất cắm cây lúa, ra sau th́ chỉ trông vào biển, tức là vào cái anh tính khí thất thường vô cùng. Mạng gút gồ bảo hải sản cũng cạn lắm rồi, rạn san hô mất 70-80%, may có vụ sứa. Cao hơn một chút, vượt lên đồi, có thể trồng rừng. Phi lao, bạch đàn, keo, thông đuôi ngựa đă phủ kín đám lúp xúp bên dưới, nhưng bao giờ cho hoa lợi th́ c̣n mệt lắm... Đất phe ra lít trên sa thạch keo kiệt chỉ cho những búi dứa dại và cây bụi chi chít gai, lá cứng, sắc như hà, đi xa nh́n vào trông thẫm đen. Huyện đảo, dù có nhiều khoản hỗ trợ, không hấp dẫn được bao nhiêu trong số ngút ngàn học sinh tốt nghiệp, các trường dạy nghề, đại học, cao đẳng. Vào làm trong cơ quan huyện hay dạy học trường xă, trường thôn có lẽ không phải chuyện phức tạp lắm, nhưng nghĩ mỗi cuối tuần đi về đất rồi quay ra tốn trăm tư cộng với say sóng với chen chúc với xe ôm xe khách đi tiếp với cả quà cáp th́ hăi chứ. Thành thử nhân lực lao động có tŕnh độ (hơi hơi) cao vẫn là hiếm. Đảo lính. Đấy là một đặc điểm của mảnh đất tuyến đầu. Có đủ các “sắc” lính: bộ đội “đỏ” của quân khu, biên pḥng, hải quân, bộ đội địa phương, chưa kể dân quân và dự bị. Mỗi anh mỗi nhiệm vụ nhưng ở với họ vài hôm, thấy có những nét vừa quen vừa lạ đối với một người qua thời lính chống Mỹ. Một mặt, đó là những người lính, nghĩa là luôn luôn phải sẵn sàng chiến đấu, đương đầu với nguy hiểm. Nhưng mặt khác, họ đang theo một cái nghề hết sức đặc biệt cho đến lúc về hưu. Đă là một nghề th́ thế nào cũng có chút ít tính chất dân sự, dù là binh nghiệp. Ví như thi thoảng được về nhà với vợ, không đằng đẵng “đến ngày chiến thắng” nữa, nhưng tiền con đi mẫu giáo đă “điều chỉnh” từ hai trăm bảy lên ba trăm tư th́ không phải anh nào cũng “nắm bắt” được. Ví như doanh trại đă tươm tất, đủ nước tắm vào mùa mưa, đêm ngủ có quạt chạy ắc quy nạp từ dàn năng lượng mặt trời, nhưng sĩ quan (đông hơn chiến sĩ) làm tất tật từ đi tuần, dân vận tới tăng gia, vệ sinh nhà cửa, cơm nước. Ví như có phụ cấp vùng xa, con học trường đảo vợ ăn lương ủy ban hoặc bán quán nhưng “đùng một cái” có thể đảo quân, ra thay cho cái anh ở xa hơn. Ví như... Rất nhiều điều nữa khiến tôi, kẻ đă “dân sự hóa” hoàn toàn, vừa quư mến, cảm phục các anh, vừa day dứt cái ư nghĩ có thể là không tích cực, rằng h́nh như về mặt tâm lư, làm lính thời chiến có cái đơn giản hơn bây giờ ?
Bút kư của Hoàng Định (C̣n nữa) |