| Nguồn tin: Báo Hànộimới điện tử |
http://www.hanoimoi.com.vn |
|
Ta nghe trong gió...(tiếp theo và hết)
14/07/2008 07:35 |
||
|
Toàn cảnh đảo nhìn từ ngọn hải đăng Cô Tô.
Tìm được người già cả sống lâu trên đảo thật khó, vì sau cuộc “thay dân” vĩ đại hồi những năm 1978-1979 thế kỷ trước, Cô Tô tinh người kinh tế mới; Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An đều góp mặt, mỗi hộ được căn nhà hai gian chừng ba chục mét, nuôi ăn một năm. Có cả một chòm Quảng Ngãi đi đánh bắt xa tấp vào, nhập hộ khẩu cho con học hành. Đảo còn vô số cư dân vãng lai là những anh cả đời lênh đênh, cả năm chỉ về nhà dịp Tết. “Xóm” Quảng Xương, Thanh Hóa có 8 nhà, đều từ Quảng Thạch ra, sống sát núi, không ruộng, chỉ bám vào biển nên nghèo “ra mặt”, ở đã mười năm vẫn phải trồng sắn. Máy phát điện mỗi chòm mỗi cái, dân góp tiền dầu - đắt hơn trong đất liền vài giá - tối đến chỉ chạy gọi là. Ông Hồ Văn Khéo, 58 tuổi, giải thích lý do đi: “Bể trong Thanh nhiều sóng, đi 8, 9 tiếng mới đánh được, tốn dầu lắm. Khi có bão chạy vào lạch náu lại là lúc dễ lật tàu nhất. Ở đây chạy một lúc là có bãi, gió to tìm hòn trú cũng không xa”. Nhà ông chuyên bắt ghẹ, người mua cứ ấn yếm ra nước là ép giá xuống loại hai, chả làm gì được. Chỉ cậu con trai vừa đem đôi sam về, ông bảo “thằng em nó lại lấy được vợ, nhà họ từ Hải Phòng ra sớm, cho cả mấy sào ruộng”. “Con út học đến lớp 11 rồi mà chưa được nhập hộ, mà quay về quê thế nào cũng được !”, bà vợ ông đay đả. Nhà bên cạnh là ông em Hồ Sĩ Thắm, cũng “tồn” cô con gái chăm chỉ khéo léo, của đáng tội da dẻ “hơi bị” mặn mà quá. Cũng Thanh Hóa, nhưng chòm Hậu Lộc ở chỗ quang quẻ, nhà cửa thông thoáng hẳn, thu nhập chắc khá hơn. Dân Nghi Xuân, Hà Tĩnh ra lại giữ được truyền thống đất học, như nhà ông Lê Thế Hạnh, con lớn là gửi vào Vân Đồn, Cẩm Phả theo trường tử tế. Nam Định, Hải Phòng, Thái Bình... mỗi anh mang tới mỗi tập quán, cứ hòa trộn làm nên khí vị đảo. Nhưng anh Quảng Ngãi lại có cái rất khó bắt chước: câu chặng giỏi, họ đánh mìn cũng hăng, làm vợi cả bãi cá mà vẫn trốn được tàu tuần. Những xóm “cờ tờ mờ” rất ít quán chỉ phổ biến lọ cà muối. Dường như sức mua có hạn, ai cũng thích đạp ra thị trấn, rẻ được vài giá. Một nhận xét nghe được: trên đảo không phải không có nhà giàu, nhưng họ thích tích thành vàng chứ chả xây cất; để lại trở về quê chăng ? Tuy vậy, một cặp vợ chồng “cán bộ” mới cưới có thể thuê ở thị trấn chỗ ở chừng hai ba trăm đã tươm tất, rất rẻ so với trong đất nhưng rất đáng kể với xứ giá cả “không khác gì cho khách du lịch ngoài Bãi Cháy”. Không đình đền, chùa miếu, hoành phi câu đối bàn thờ “hoành tráng lệ” càng không. Ngày sóc vọng, tết lễ muốn cầu cúng phải vào đền Đức Ông Trần Quốc Tảng tận Cửa Ông quá xa xỉ. Thôn nào cũng có nhà văn hóa, nhưng chắc “nội dung” sinh hoạt chỉ tiềm tiệm, trừ khoản nghe đài huyện thì “vô tư đi”. Thế nhưng “sống dầu đèn chết kèn trống”, người Việt là vậy. Thế nào mà tôi và Biên lại túm được Nguyễn Văn Viên, thành viên đội bát âm độc nhất trong huyện. Người đàn ông 52 tuổi, quê Kiến An, Hải Phòng bị tật ở chân, di chuyển xà xà mặt đất, có bà vợ cũng ốm đau, thuộc diện nghèo phải trợ cấp ấy lại được trời phú cho đôi tay khéo, đan hom đan giỏ nuôi mấy miệng ăn. Câu chuyện của ông ăm ắp dư vị mới cũ, vừa đắng lại vừa ngọt, không thể không kể lại... “Tôi đã đào giếng ba lần, giờ mới an cư. Hộ diện nghèo, ba tháng thì Hội Chữ thập đỏ cho 180.000 đồng, con trai đang xin mua xe đạp để học nghề trên thị trấn. Bố tôi ra năm 1979. Tôi ra 1992, đến nay thấy người chết toàn vùi ruộng, vì xã chưa có nghĩa trang. Thầy cúng, thầy địa lý chả có, vô sư vô sách, cứ mượn ông già tươm tất khấn nôm thôi. Đội bát âm quay băng, độc tôi đánh trống, giờ đã năm ông đủ nhị kèn trống nhưng học theo băng chỉ đi được Hành Vân Lưu Thủy. Cái ông biết bài Lâm Khốc năm ngoái đã chết, ông Nhính biết dăm chữ Nho về đất rồi”. “Chết để lên xe đẩy đi ai biết là đâu, phải trống kèn mới có người đến khóc chứ. Một năm chỉ hai đám, tính (như) giờ từ 3h chiều đến 8h sáng hôm sau được triệu bạc, mấy hôm sau còn bã người, chia nhau người được hơn trăm chứ mấy, thế mà xin thêm gia chủ mắt long sòng sọc. Năm ngoái nhà ấy nghèo, chúng tôi chỉ lấy 700, trưởng thôn đã lên loa kêu đội kèn bắt đắt. Cũng muốn đầu tư đủ lệ bộ, như cờ chín lá cho đàn bà, đàn ông thì bảy, nhưng đành chịu”. “Thanh minh vẫn có người Hoa về tảo mộ. Thị trấn có người bán quan tài, nhưng phải báo mới đóng. Đa phần chở tàu từ đất ra, gỗ tạp bọc phoóc ai biết là đâu...”. Đều đều, chập chờn như cơn sóng nhẹ, Nguyễn Văn Viên “chở” tôi qua những đêm đèn nến (có đèn nến không ?) tom tom ỉ ôi tiếng khóc, ngôi mộ ở Vòm Si “đào xuống đá nửa ngày mới xong”. Rồi trèo lên thuyền bằng tay, người đàn ông búi tóc củ hành ấy sang tận Thanh Lân, cách Cô Tô gần một giờ để tiễn đưa một sinh linh về vĩnh hằng, vãn đám chia nhau tiền. Sang Thanh Lân thôi, chứ Trần thì xa quá. Ngoài Trần vừa có anh lính Hải Phòng mất sau khi cứu người ngã, ba ngày sau mới nổi, đám ma đơn vị làm trang trọng, thành kính nhưng không thể có trống kèn... Thị trấn Cô Tô vòng vèo có mấy con phố, đi bộ chừng mươi lăm phút là “nghía” hết. Giờ phát điện ngưng, những quán karaoke đều uể oải. Còn nhộn nhịp là chợ cá. Đàn ông vác cuộn lưới bị ghẹ cào rách về nhà, chân đi như hai cái cột gỗ nhấc lên rồi lại giồng xuống đất. Đàn bà dận ủng bịt mặt vừa cãi vã cân đong vừa lo giành củ gừng đem trong đất ra, tý nữa luộc với ngao cho chồng đưa cay “ăn xong nó lăn kềnh đến chiều lại ra tàu”. Luồn thoăn thoắt giữa đám đông là những đứa trẻ tóc đỏ “Hàn Quốc”, nhưng không phải là nhuộm, nhặt cá vụn cho lợn. Và tôi, giữa tanh tao ồn ã, với chén rượu tẻ vị chua chua, nhâm nhẩm ý nghĩ: “Họ đang sống đấy, còn mình thì nếm họ”. Biển Cô Tô quả là có mặn hơn nơi khác thật... Hoàng Định |