| Nguồn tin: Báo Hànộimới điện tử |
http://www.hanoimoi.com.vn |
|
5 năm mới được một bước ngắn
11/05/2006 08:18 |
||
|
Chất lượng, hiệu quả của giáo dục đại học VN chưa có nhiều chuyển biến tích cực Ảnh: TK Một vài kết quả khả quan Năm 2005, quy mô đào tạo ĐH,CĐ tăng 1,4 lần so với năm 2001 với 1.393.669 sinh viên, b́nh quân đạt 167,5 sinh viên/1 vạn dân, vượt chỉ tiêu so với mục tiêu chiến lược là 140 sinh viên/1 vạn dân. Con số này chưa kể khoảng 6 ngh́n người đang được đào tạo ở nước ngoài theo hiệp định và ngân sách Nhà nước. Quy mô tăng đă là một cố gắng nhưng điều đáng mừng là cơ cấu hệ thống đă có những điều chỉnh cơ bản. Loại h́nh trường và h́nh thức đào tạo đa dạng hơn: cả nước hiện có 37 trường ĐH, CĐ dân lập, tư thục và bán công và đang đào tạo 160.420 sinh viên, chiếm gần 12% tổng số sinh viên ĐH, CĐ. Ngoài ra, hệ thống 9 trường CĐ cộng đồng đă bước đầu h́nh thành, đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu của từng địa phương. Cùng với đào tạo chính quy, phương thức đào tạo không chính quy đă phát triển và hiện đang được triển khai tại 93 trường ĐH, 94 trường CĐ với gần 600 ngh́n sinh viên, chiếm 43% tổng số sinh viên ĐH,CĐ. Khác với những năm trước, cơ cấu tŕnh độ đào tạo cũng đă có sự thay đổi, hợp lư hơn. Tỷ lệ sinh viên ĐH trong tổng số sinh viên ĐH, CĐ giảm từ 83,6% năm 2001 xuống c̣n 78,4% năm 2005, c̣n tỷ lệ CĐ tăng từ 16,4% lên 21,6%. Sự thay đổi về chất trong GD ĐH c̣n có thể thấy ở chất lượng đào tạo một số ngành, lĩnh vực. Chương tŕnh đào tạo được đổi mới, quy tŕnh đào tạo được điều chỉnh theo hướng tiếp cận nhiều hơn với học chế tín chỉ. Công tác đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong GD ĐH có tiến bộ. Kiến thức ngoại ngữ của sinh viên ngày càng được sử dụng tích cực và hiệu quả. Nguồn lực xă hội được huy động nhiều hơn, các trường cũng năng động hơn để tự cân đối thu, chi phục vụ cho mọi họat động của trường. Thực trạng c̣n nhiều “vấn đề “ Mặc dù cả nước đă có 311 trường ĐH,CĐ song mạng lưới trường lại chậm được điều chỉnh. Các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long có nhu cầu mở thêm nhiều trường mới nhưng trong số 35 trường ĐH, 53 trường CĐ được thành lập trong 5 năm qua, chỉ có 3 trường ở Tây Bắc, 4 trường ở Tây Nguyên và 7 trường ở đồng bằng sông Cửu Long. Số lượng sinh viên trúng tuyển vào các trường ĐH,CĐ ở ba vùng này tăng chậm. Tỷ lệ sinh viên ở các trường ngoài công lập c̣n xa mới đạt mực tiêu đă đề ra cho năm 2010 là khoảng 40%. Cơ cấu ngành nghề vẫn mất cân đối. Tỷ lệ sinh viên mới ở khối ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp chiếm tỷ lệ thấp 4,48%. Nội dung chương tŕnh đào tạo xa rời thực tế, thiếu năng động, nặng tính lư thuyết , chưa cập nhật kiến thức hiện đại, chưa phù hợp với xu hướng chung. Đội ngũ giáo viên tăng 41% so với năm 2001, trong đó số PGS, GS chiếm 4,8%, tiến sĩ và tiến sĩ khoa học chiếm 13,1%, thạc sĩ là 30,5%, nhưng nh́n chung vẫn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Họ phải gánh một khối lượng giờ dạy quá lớn, không c̣n thời gian dành cho nghiên cứu khoa học. Không ít người không sử dụng được ngoại ngữ và tin học trong giảng dạy và nghiên cứu. Với một đội ngũ như thế, cùng những cơ chế chưa đủ sức khuyến khích giảng viên tham gia nghiên cứu cho nên hoạt động khoa học, công nghệ trong các trường yếu, chưa gắn với đào tạo và sản xuất kinh doanh. Các nguồn lực dành cho GD ĐH đă có tăng những vẫn là thấp so với yêu cầu. Nhưng nguồn lực ít ỏi ấy cũng chưa được sử dụng có hiệu quả. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, giáo tŕnh, sách báo, tài liệu phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường c̣n nghèo nàn, thiếu thốn. Đất đai, khuôn viên của các trường, kể cả 2 đại học quốc gia và các trường trọng điểm quá nhỏ bé, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Những hiện tượng tiêu cực trong thi cử, viết luận văn, luận án, cấp phát văn bằng… chưa được khắc phục triệt để, làm cho t́nh trạng có bằng thật nhưng chất lượng rởm vẫn tồn tại, khiến cho dư luận xă hội phê phán. Nguyên nhân ở đâu? Vẫn là những nguyên nhân cũ nhưng chưa có biện pháp khắc phục hiệu quả. Đó là cung cách đào tạo một chiều, chỉ dạy những ǵ nhà trường có mà chưa theo nhu cầu của xă hội; các giải pháp tăng cường điều kiện đảm bảo chất lượng như học chế tín chỉ, chương tŕnh tiên tiến, học liệu mở, đánh giá và kiểm định mới được khởi động; nguồn lực phân tán nên không tạo nên được bước đột phá; việc đào tạo đội ngũ chưa được đẩy mạnh và chất lượng không cao; công tác thanh, kiểm tra chưa đạt yêu cầu… Tuy nhiên, đáng mừng là, đến lúc này, ngành GD-ĐT đă chỉ ra được nguyên nhân chủ yếu là sự xơ cứng của công tác quản lư. Các cơ quan quản lư ôm đồm, áp đặt quá nhiều làm cho không gian hoạt động của các trường bị bó hẹp, tính tự chủ, sáng tạo của cơ sở bị ḱm hăm, tính tự chịu trách nhiệm chưa cao. Thực tế là sự đổi mới của GD ĐH đă không theo kịp đổi mới kinh tế kể cả trong tư duy, trong hành động, trong cơ chế chính sách và giải pháp cụ thể. Văn Vũ |