Phát huy lợi thế giai đoạn “dân số vàng”

Suy ngẫm đầu tuần | 07:06 Thứ Hai ngày 06/11/2017
(HNM) - Nghị quyết số 21-NQ/TƯ Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Về công tác dân số trong tình hình mới” khẳng định: Tốc độ gia tăng dân số ở nước ta đã được khống chế thành công, đạt mức sinh thay thế sớm 10 năm so với mục tiêu đặt ra cách đây 25 năm. Trong quãng thời gian này, chúng ta đã hạn chế tăng thêm hàng chục triệu người. Song song với đó là cơ cấu dân số có sự dịch chuyển tích cực. Dân số lao động tăng mạnh. Từ năm 2007, nước ta bước vào thời kỳ “dân số vàng”...

Theo Tổng cục Thống kê, dân số Việt Nam hiện ở mức 94-95 triệu người và dự báo sẽ giữ ổn định ở mức 104 triệu vào năm 2030. Với tỷ lệ, cứ hai người trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 59 tuổi) chỉ phải “cõng” một người phụ thuộc. Quốc gia nào có cơ cấu dân số đạt mức trên được gọi là thời kỳ “dân số vàng” và Việt Nam đã có 10 năm ở thời kỳ này.

Thông thường, dân số đông, đang trong thời kỳ sung sức nhất sẽ tạo cơ hội để tăng tốc phát triển kinh tế. Về lý thuyết, dân số tạo cơ hội nhưng điều đó không tự đến mà phải được hiện thực hóa bằng các chiến lược và sách lược cụ thể cho từng giai đoạn. Ví dụ như Việt Nam cần có chiến lược để thoát khỏi vùng trũng trong chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu là gì? Tiệm cận như vậy để thấy rằng, Nghị quyết số 21-NQ/TƯ đã đề cập thẳng thắn, đúng và trúng đến hai bài toán lớn trong công tác dân số thời gian tới, là: Giải pháp gì để phát huy tối đa thuận lợi từ thời kỳ “dân số vàng” và khắc phục tình trạng “chưa giàu đã già” - một mối lo có thực đang hiện hữu.

Trước hết, cơ hội của thời kỳ “dân số vàng” tác động đến kinh tế thông qua ba cơ chế: Cung cấp lao động, tiết kiệm và vốn con người. Kinh nghiệm thế giới chỉ ra rằng, cơ hội dân số chỉ tạo ra điều kiện, còn môi trường chính sách mới là yếu tố quyết định, cho phép tận dụng được cơ hội “dân số vàng” mang lại. Nhìn rộng ra, sự phát triển thần kỳ về kinh tế ở một số “con rồng” Châu Á cho thấy họ đã tận dụng lợi thế của giai đoạn “dân số vàng” rất rõ nét.

Còn ở Việt Nam thì sao?

Chúng ta thường nói lợi thế cạnh tranh của nước ta là nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻ, song thực tế thì chất lượng chưa cao kéo theo hiệu suất lao động khá thấp. Chúng ta đang thiếu trầm trọng lao động kỹ thuật có trình độ cao và lao động dịch vụ cao cấp trong các ngành tài chính, ngân hàng, du lịch, bán hàng... nên nhiều nghề và công việc phải thuê lao động nước ngoài. Còn lao động xuất khẩu đa phần chỉ đạt chất lượng thấp, mới qua đào tạo sơ đẳng và thiếu hụt nhiều về ngoại ngữ. Vì thế, xét ở một khía cạnh nào đó thì chúng ta chưa phát huy được hết lợi thế trong thời kỳ “dân số vàng”.

Bài toán khó hiện nay là làm sao để lực lượng lao động có thể tạo sức bật cho phát triển kinh tế khi có tới 75% trong số đó là lao động giản đơn, chưa qua đào tạo? Do đó, “chìa khóa” để tận dụng thời kỳ “dân số vàng” của nước ta là phải đặc biệt quan tâm đến nhóm chính sách về giáo dục và đào tạo, chú trọng đến chất lượng đào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường lao động; triển khai các chương trình về kỹ năng sống, năng lực hành vi, kiến thức xã hội cần thiết, đặc biệt là với lực lượng lao động trẻ.

Một điều quan trọng nữa là trong khi chờ đợi nhiều lao động được đào tạo tay nghề theo nhu cầu thị trường, nước ta cần quyết tâm thực hiện thành công việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển mạnh những ngành tạo ra nhiều cơ hội việc làm như dệt may, chế biến thực phẩm, dịch vụ… mở rộng cơ hội sản xuất kinh doanh, thu hút người trong độ tuổi lao động làm việc, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực do tình trạng thiếu việc làm gây ra.

Bên cạnh đó, cần chuẩn bị đội ngũ lao động kế cận cho giai đoạn già hóa dân số; hoàn thiện thể chế và công cụ phục vụ thị trường lao động, hoàn thiện hệ thống thông tin, dự báo... tạo thị trường lao động công khai, lành mạnh. Và, nếu tận dụng được tối đa trí tuệ, sức lao động của lực lượng trẻ thì sẽ tạo ra khối lượng của cải vật chất khổng lồ, tạo ra giá trị tích lũy lớn cho tương lai, bảo đảm an sinh xã hội khi đất nước bước vào giai đoạn “dân số già”.

Với tình trạng “chưa giàu đã già” như ở nước ta hiện nay thì sao?

Các nhà khoa học đã ước tính, chi phí chăm sóc cho 1 người già sẽ gấp 8 lần cho 1 trẻ em. Do đó, cơ cấu dân số già đến trước sự giàu có thì đất nước sẽ gặp phải những thách thức lớn ngay trong thập kỷ tới. Vấn đề lương hưu và chăm sóc sức khỏe, đời sống tinh thần cho người già sẽ ngày một căng thẳng và tăng trưởng kinh tế sẽ ngày càng suy giảm do lực lượng lao động suy giảm.

Nhìn xa hơn, thời kỳ “dân số vàng” và già hóa dân số ở nước ta diễn ra cùng một lúc, vậy nên Nhà nước cần có những chính sách nhằm tận dụng ở mức cao nhất đối với bộ phận dân số là người cao tuổi, khuyến khích họ tham gia vào phát triển kinh tế, xã hội, nhất là đối với những người ở độ tuổi từ 55 đến 75 còn sức khỏe, có nhiều kiến thức, kinh nghiệm. Những giải pháp khai thác triệt để cơ hội của cơ cấu “dân số vàng”, không chỉ nhằm phát huy lực lượng lao động dồi dào ở giai đoạn này để làm ra khối lượng của cải vật chất nuôi sống bản thân họ, mà quan trọng hơn là tạo nên nguồn lực thặng dư để bảo đảm cuộc sống cho các nhóm dân số phụ thuộc trong cùng thời kỳ.

Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) đã đúc kết rằng, quốc gia nào đầu tư 1 đồng cho công tác dân số, lợi ích thu lại là 31 đồng. Vì vậy, để tận dụng cơ hội “dân số vàng”, rất cần những giải pháp mang tầm vĩ mô của Nhà nước. Nhưng trước hết, người lao động cũng cần chủ động tạo ra giá trị tích lũy nhiều nhất có thể, cho mình và xã hội, bằng cách tích cực học tập và tự đào tạo không ngừng, chủ động đón làn sóng mới từ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Mốc năm 2041 (dự kiến hết thời kỳ “dân số vàng” ở Việt Nam) sẽ trôi qua rất nhanh, nếu chúng ta không hành động quyết đoán. Do đó, rất cần đến một chính sách phát triển dân số hài hòa với các chính sách kinh tế - xã hội nhằm tạo nên chất lượng vàng cho giai đoạn “dân số vàng” ở giai đoạn sắp tới!
Đỗ Quỳnh Chi
Từ khoá
Bình luận
Gõ tiếng Việt có dấu, tối thiểu 15 chữ
Thông báo