Nhọc nhằn “Châu về Hợp Phố

Văn hóa - Ngày đăng : 17:56, 29/01/2017

(HNM) - Cổ vật, tác phẩm của các danh họa không chỉ phản ánh lịch sử, tầng sâu văn hóa mà còn là niềm tự hào của cả đất nước. Vậy mà rất nhiều đồ quý giá ấy lại đang lưu lạc ở nước ngoài, nằm trong các bộ sưu tập của người ngoại quốc.

Triển lãm “Hội họa Việt Nam - một diện mạo khác” với nhiều tác phẩm hồi hương gắn với tên tuổi nhiều danh họa nổi tiếng Việt Nam. Ảnh: Ngọc Anh.


Thật - giả lẫn lộn


Hẳn nhiều người còn nhớ chuyện ồn ào xung quanh 17 bức tranh gắn tên nhiều danh họa nổi tiếng của Việt Nam bày tại triển lãm Những bức tranh trở về từ Châu Âu cách đây vài tháng. Giới thẩm định đã “tuyên bố” 15/17 bức tranh đó “không phải bản vẽ do tác giả đứng tên thực hiện”.

Đặc biệt, bức tranh Chân dung cô Kim Anh của họa sĩ Thành Chương vẽ từ những năm 70 của thế kỷ trước, sau một thời gian bôn ba cũng trở về quê nhà dưới cái tên Trừu tượng, mà tác giả ký trong tranh là “Tạ Tỵ 52”. Họa sĩ Thành Chương sau khi xem bức tranh đã gửi đơn tố cáo tới cơ quan chức năng, đề nghị xử lý hình sự vụ tranh bị mạo danh. Sự quyết liệt của họa sĩ Thành Chương cũng như một số chuyên gia am hiểu mỹ thuật Việt Nam đã khẳng định quan điểm: Những tác phẩm phải trở về với chân giá trị của nó.

Không chỉ là chuyện đúng - sai, mà sự việc trên còn chỉ ra một thực tế: Nhiều tác phẩm hội họa hồi hương là hàng giả. Trong trường hợp bức tranh của họa sĩ Thành Chương, rất may sự việc được phát hiện kịp thời, với những nhân chứng, vật chứng thuyết phục. Còn với những tác phẩm mà “người trong cuộc” đã trở thành thiên cổ thì thật - giả rất khó đoán định. Giới mỹ thuật đã nhiều lần phàn nàn về những cuộc trở về của các tác phẩm của danh họa Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên...

Như trường hợp 50 tác phẩm của các họa sĩ trưởng thành từ Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương như Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu... trưng bày tại triển lãm Hội họa Việt Nam - một diện mạo khác hồi năm 2015 thì vẫn còn những nghi vấn. Nhà sưu tập Nguyễn Minh khẳng định đây là những bức tranh mua lại từ các nhà sưu tập nước ngoài, có những bức ông đã đấu giá thành công tại phiên đấu giá Christies (Hồng Kông), Skinner (Mỹ) với rất nhiều tốn kém. Song đã xuất hiện không ít nghi ngại về tính “thật” của một số bức tranh, thậm chí chỉ ra những nét vẽ vụng về hoặc màu mực còn khá mới trên một vài bức tranh.

Nhưng không ai đưa ra bằng chứng thuyết phục nên tất cả chỉ dừng lại ở “tin đồn”. Những tên tuổi đó đã không còn, con cháu họ cũng không đủ chuyên môn, đủ thuyết phục để lên tiếng. Chẳng còn ai có thể “cãi” cho những bức tranh ấy nữa.

Cổ vật cũng hướng về đất mẹ


Nếu như sự trở về của các tác phẩm mỹ thuật thường nhờ sự nỗ lực cá nhân thì những cổ vật, đặc biệt là cổ vật gắn với lịch sử của đất nước, thường phải do các tổ chức nhà nước đứng ra “lo liệu”. Tháng 4 - 2015, chiếc xe kéo của Hoàng thái hậu Từ Minh (thân mẫu vua Thành Thái) đã trở về cố hương sau nhiều thập kỷ lưu lạc. Trước đó, tháng 6 - 2014, ở phiên đấu giá tại Văn phòng Rouillac (Pháp), đại diện Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã đấu giá thành công kỷ vật độc đáo này với mức đấu giá 45.000 euro, cộng thêm lệ phí đấu giá thành 55.800 euro - khoảng 1,3 tỷ đồng.

Lý do của những sự ra đi thì có nhiều, do chiến tranh, do đói nghèo, do mất trộm… Nhưng lý do của sự trở về, dường như chỉ có một: Đó là tình yêu với Tổ quốc. Như trường hợp chiếc xe kéo kể trên, khi vừa đấu giá xong, Bảo tàng Nghệ thuật Châu Á Guimet (Paris) tuyên bố nhà nước Pháp đề nghị mua lại chiếc xe với giá trên theo nguyên tắc “quyền ưu tiên mua” ở nước sở tại. Sau quá trình vận động ngoại giao, Bộ Văn hóa Pháp đã đồng ý không tranh mua cổ vật với Việt Nam đối với chiếc xe kéo của Hoàng thái hậu Từ Minh. Đây là cổ vật đầu tiên của Việt Nam đang lưu lạc ở nước ngoài được Việt Nam đấu giá thành công và đưa trở về nước.

Nhiều cổ vật khác cũng đã trở về quê hương với tình yêu như vậy. TS Trần Đức Anh Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế - xã hội TP Đà Nẵng từng kể, có lần ông đưa một người Việt Nam qua Đức và anh này đã mua lại những cổ vật ngày xưa anh bán cho người Đức để đem về Việt Nam. “Đây là một trong những tín hiệu mà theo tôi là cho thấy bắt đầu có xu thế cổ vật hồi hương về lại Việt Nam”, theo ông Sơn.

Càng khó khăn càng phải khắc phục

Tác phẩm nổi tiếng, cổ vật giá trị của Việt Nam mà lại để nước khác sở hữu, đó là sự “chảy máu văn hóa”, là nỗi buồn và là sự thiệt thòi cho những thế hệ sau. Đáng lo ngại là một số quốc gia quy định thời gian cổ vật lưu lại trên đất nước họ bao nhiêu năm sẽ thuộc tài sản của họ. Như quy định của Pháp, bất kỳ cổ vật nào sau 30 năm lưu lạc ở nước này đều thuộc tài sản của họ. “Sau khoảng thời gian này, dù Việt Nam có chứng minh được nguồn gốc cổ vật cũng như việc chúng bị lấy cắp thì cũng không thể đòi lại được nữa”, một chuyên gia phân tích.

Theo ông Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, đơn vị này từng tiếp nhận một số cổ vật hiến tặng đưa về từ Pháp, gồm: Một cặp ngà voi, một chiếc bàn gỗ sơn son mặt sứ, một chiếc đồng hồ khảm xà cừ…, nhưng vẫn còn hàng trăm nghìn cổ vật của Việt Nam và Huế lưu lạc ở nước ngoài, trong đó ở Pháp là nhiều nhất. Căn cứ vào các tư liệu lịch sử, cổ vật triều Nguyễn đã xảy ra những đợt mất mát lớn vào các năm 1775, 1862, 1885, 1945, 1947, 1972..., đặc biệt vụ mất mát lớn nhất trong lịch sử gắn liền với sự kiện thất thủ kinh đô Huế (5-7-1885), khi quân đội Pháp tấn công vào kinh đô Huế. “Có thể nói, phần lớn của cải trong hoàng cung nhà Nguyễn và giới quý tộc Huế đã bị người Pháp đưa về chính quốc và hiện trưng bày tại các bảo tàng của Pháp.

Ngoài ra, ở Nhật Bản, Hàn Quốc... đều có cổ vật của triều Nguyễn mà tôi đã trực tiếp nhìn thấy”, theo ông Hải. Nhiều cổ vật quý chúng ta đã cố gắng hồi hương nhưng bất thành, ví dụ như bức tranh Chiều tà do vua Hàm Nghi vẽ năm 1915. Mặc dù Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã ủy quyền Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp tham gia đấu giá bức tranh này vào tháng 11-2010 nhưng cuối cùng giá bán tranh vẫn cao hơn số tiền Việt Nam đưa ra.

Để cổ vật quý của Việt Nam tiếp tục hồi hương thì nỗ lực của các cá nhân, của giới yêu cổ vật thôi chưa đủ. Giới chuyên gia cho rằng, Nhà nước cần có chính sách phù hợp để có thể mua, lập hồ sơ kiện đòi cổ vật, hoặc trao đổi các cổ vật quý. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cuộc vận động “hồi hương cổ vật”, nhất là các cổ vật quý thuộc sở hữu của Việt kiều ở nước ngoài. Một cuộc vận động có chủ đích sẽ tạo điều kiện “bắc cầu” cho việc “hồi hương cổ vật” bằng các hình thức thích hợp. Như thế mới “Châu về Hợp Phố”, và người Việt không còn phải xem nhờ di sản của cha ông.

Thư Hoàng